Để FDI không “một mình một đường”

08:00 | 10/06/2018

Có mặt ở 36 tỉnh, thành và ngày càng lan rộng ra nhiều lĩnh vực, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiện chiếm khoảng 25% trong tổng đầu tư xã hội, khoảng 10% tổng thu NSNN và 70% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm.

TIN LIÊN QUAN
de fdi khong mot minh mot duong Kinh tế tư nhân và FDI cần kết hợp mạnh mẽ, hiệu quả hơn
de fdi khong mot minh mot duong “Hút” FDI nhờ phương thức trọng tài thương mại
de fdi khong mot minh mot duong
TS. Nguyễn Minh Phong

Nhưng bên cạnh đó, những bất cập đang tồn tại, đã khiến cho khu vực này vẫn “một mình một đường”, chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong đã nói gì về vấn đề này, TG&VN xin giới thiệu cùng độc giả.

Ông nhận định thế nào về những bất cập ở khu vực FDI hiện nay?

Bên cạnh những thành tựu, FDI thời gian qua cũng bộc lộ nhiều bất cập, nổi bật là: chất lượng chưa tương xứng với số lượng; cơ cấu vẫn còn nghiêng về các dự án mà chủ đầu tư đa số là từ châu Á và chủ yếu vẫn là các dự án có công nghệ chưa cao. Nói cách khác, Việt Nam vẫn chưa đạt mục tiêu nâng cao đáng kể trình độ công nghệ và chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp (DN) FDI.

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù công nghệ chuyển giao vào Việt Nam hầu hết là công nghệ có trình độ bằng hoặc cao hơn công nghệ sẵn có ở Việt Nam, phần lớn các DN FDI có công nghệ trung bình so với thế giới (80%), một phần đáng kể có công nghệ lạc hậu (14%) và chỉ có 6% có công nghệ cao.

Các công nghệ được chuyển giao theo dự án FDI thường là công nghệ được đưa vào theo lợi ích của nhà đầu tư, chứ không phải theo nhu cầu đổi mới công nghệ quốc gia. Việt Nam mới chỉ thu hút khoảng 100/500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới, trong khi đó Trung Quốc đã thu hút 400. Và ngay cả trong trường hợp thu hút một số tập đoàn công nghệ cao nổi tiếng toàn cầu như Samsung thì công đoạn sản xuất tại Việt Nam chỉ là công đoạn cuối, tức là chỉ lắp ráp, không đòi hỏi lao động chất lượng cao và công nghệ tiên tiến.

Ngoài ra, do nhiều dự án FDI đưa vào dây chuyền công nghệ lạc hậu, chưa tự giác trong việc tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường, nên có tác động tiêu cực đến môi trường, như: Công ty Vedan tại Đồng Nai, Công ty Tung Kuang tại Hải Dương, Công ty Long Tech tại Bắc Ninh và mới đây là Formosa tại Hà Tĩnh... Đồng thời, việc các DN FDI khai thác bừa bãi, thiếu quy hoạch các tài nguyên khoáng sản từ dầu khí đến than đá, quặng… đã và đang gây tổn thất lớn nguồn tài nguyên không tái tạo được của Việt Nam.

de fdi khong mot minh mot duong
Nhiều dự án FDI đưa vào dây chuyền công nghệ lạc hậu, chưa tự giác trong việc tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường.

Thêm vào đó, mối liên kết giữa DN FDI và DN trong nước còn yếu, không hỗ trợ nhiều cho khu vực DN trong nước phát triển. Tỷ lệ sản phẩm đầu vào được mua từ các nhà chế biến, chế tạo trong nước ở tất cả loại hình DN FDI là tương đối thấp. Các DN FDI nhập khẩu phần lớn đầu vào thông qua công ty mẹ hay nhập trực tiếp, chỉ số ít sử dụng đầu vào từ các DN tư nhân trong nước.

Sự mất cân đối giữa đóng góp của vốn FDI vào tổng vốn  đầu tư xã hội (khoảng 25%), và đóng góp vào ngân sách Nhà nước (chỉ khoảng 10%) cho thấy hiện tượng thất thu thuế và chuyển giá trên thực tế là nghiêm trọng.

Ông có nói, mối liên kết giữa DN FDI và DN trong nước còn yếu, không hỗ trợ nhiều cho khu vực DN trong nước phát triển. Vậy theo ông, đâu là nguyên nhân?

Thách thức cơ bản nhất trong thu hút FDI vẫn là cải thiện tác động lan tỏa, tạo ra hỗ trợ rõ nét để DN trong nước tham gia nhiều hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu (mà hiện chỉ đạt 21% số DN, thua xa con số 30% của Thái Lan và 46% của Singapore). Nguyên nhân khó khăn trong việc thúc đẩy mối liên kết chưa bền chặt giữa DN “nội” với khối FDI, đến từ cả hai phía.

Trước hết, rất ít DN trong nước đủ khả năng cung ứng sản phẩm đầu vào cho DN FDI do công nghệ sản xuất, hệ thống quản lý, chủng loại sản phẩm cung ứng của DN Việt Nam còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu cao từ phía khách hàng; thiếu các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực, thúc đẩy liên kết từ phía Chính phủ và các cơ quan hỗ trợ DN.

Ngược lại, DN FDI cũng chưa chủ động, tích cực kết nối để hỗ trợ DN "nội" tham gia vào chuỗi sản xuất của họ. Việc thực hiện những cam kết hỗ trợ, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật của DN FDI dường như bỏ ngỏ, dẫn đến nguy cơ DN FDI sẽ dễ dàng đến và đi tùy theo độ hấp dẫn của thị trường.

Vậy Nhà nước và tự thân DN nội cần làm gì để củng cố mối liên kết này?

Để tăng tính liên kết giữa khu vực FDI và DN nội, nhất là trong bối cảnh CMCN 4.0, cần chú ý phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với các sản phẩm chủ lực và chuỗi cung ứng do DN FDI làm nòng cốt. DN nội cần đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực công nghệ, tuân thủ các quy trình và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của DN ngoại và quốc tế, tập trung vào những lĩnh vực Việt Nam có sức cạnh tranh.

Ngoài ra các chính sách khuyến khích FDI cần gắn với thúc đẩy liên kết và chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động; tăng hoạt động thông tin và kết nối các DN trong nước với các DN FDI. Chính phủ và các địa phương nên phát triển các khu, cụm công nghiệp theo chuỗi sản phẩm và cung ứng giá trị, thay vì các cụm CN hỗn hợp, không có liên kết như hiện nay.

Đặc biệt, cần tập trung đào tạo nguồn nhân lực quản lý cao cấp và chuyên gia, công nhân lành nghề để tham gia vào hoạt động và dây chuyền công nghệ của DN FDI.

Và chính sách thu hút FDI cũng cần thay đổi thế nào để khắc phục những bất cập trên?

Chiến lược thu hút FDI mới cần định hướng ưu tiên nhiều hơn cho công nghệ xanh, hiện đại và tiếp cận với công nghệ CMCN 4.0. Các chính sách ưu đãi cần phải gắn với hiệu quả của các dự án FDI; xem xét lại toàn bộ chính sách ưu đãi dành cho DN FDI từ trước đến nay để đưa ra những thay đổi cơ bản theo hướng những dự án nào mang lại hiệu quả kinh tế cao, ít ảnh hưởng môi trường, tiếp cận tốt với định hướng mới thì ưu đãi nhiều hơn, chứ không chỉ dựa vào quy mô hay số lượng việc làm tạo ra như cách làm trước đây.

Đồng thời, Chính phủ và địa phương tổ chức lại toàn bộ quá trình từ xúc tiến đầu tư cho đến thẩm định, cấp phép, triển khai hay đánh giá hiệu quả của các dự án FDI.

Việc thẩm định cũng cần thay đổi theo hướng không chỉ vì lợi ích trước mắt của từng vùng, từng địa phương mà phải coi trọng lợi ích lâu dài chung của đất nước; đánh giá hiệu quả phải coi tác động lan tỏa là yếu tố chủ chốt. Chỉ như vậy, dòng vốn FDI mới thật sự mang lại những giá trị bền vững cho Việt Nam trong thời gian tới.

Xin cảm ơn ông!

de fdi khong mot minh mot duong Những dấu ấn Nhật Bản ở Việt Nam

Không chỉ là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) số 1 vào Việt Nam, Nhật Bản còn là đối tác viện trợ phát ...

de fdi khong mot minh mot duong Đi tìm động lực cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2018 - 2020

“Từ năm 2018 - 2020, môi trường kinh doanh Việt Nam tiếp tục được cải thiện. Khu vực tư nhân sẽ trưởng thành hơn, quá ...

de fdi khong mot minh mot duong Để doanh nghiệp FDI không còn là "ốc đảo" của nền kinh tế

Sau hơn 30 năm Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành (tháng 12/1987), doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp ...