Paris, 30/4/1975

27/04/2013 22:07

Ngày 30/4/1975, tôi có mặt với tư cách Cố vấn đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời (CPCMLT) tại Hội nghị La Celle Saint Cloud - Hội nghị hiệp thương hai miền Việt Nam mà phía bên kia là chính quyền Sài Gòn.

Đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris.

Chiều 29/3/1975, tôi đến Paris trong sự đón tiếp nồng nhiệt của anh chị em trong Đoàn. Dồn dập biết bao lời hỏi han, chuyện chung và chuyện riêng, chuyện đánh và chuyện đàm. Tối đến, trong một cuộc họp nhỏ của mấy đồng chí lãnh đạo đoàn, anh Đinh Bá Thi hỏi tại sao những bức điện gần đây của anh gửi về nhà đều không được trả lời. Tôi đề nghị anh cho biết nội dung bức điện ấy. Anh nói: Sài Gòn thúc giục xin họp lại. Những nguồn tin khác hỏi ta chấp nhận ai vào chính quyền Sài Gòn để nói chuyện?, v.v… Tôi cười: bây giờ là tiếng nói của chiến trường. Anh Sáu (Lê Đức Thọ) đã vào Nam. Anh Trinh (Nguyễn Duy Trinh) chỉ đạo mặt trận đối ngoại. Công việc của Bộ chính trị lúc này tập trung toàn bộ vào cuộc Tổng tiến công.

Tin mừng thắng trận nở như hoa

Ở cơ quan Đoàn, tuy chẳng có đàm phán gì mà công việc vẫn cứ tất bật. Các đồng chí Đinh Bá Thi, Nguyễn Thị Chơn, Phạm Văn Ba… cùng mấy chuyên viên của đoàn như Phan Nhẫn, Phan Thị Minh… không ngày nào không có những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc trả lời phỏng vấn báo chí. Đối tượng tiếp xúc rất khác nhau: từ các bạn bè gần xa cho đến các chính khách, các giới ngoại giao, báo chí tại nước chủ nhà, nước Mỹ, và nhiều nước khác. Từ trong nước dội ra là các "tin mừng thắng trận nở như hoa".

Chính cái ngày tôi đến Paris, ngày 29/3/1975, là ngày ta giải phóng Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Nam. Tiếp đó là Bình Định, Phú Yên, Tuyên Đức… Ngày 6/4, Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam ra thông cáo cho biết: từ đầu tháng 3, ta đã giải phóng hoàn toàn 16 tỉnh và 5 thành phố lớn (Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt)... Chính quyền Sài Gòn hoang mang đến tột độ. Ngày 10/4, Tổng thống Gerald Ford đề nghị Quốc hội Mỹ cấp ngay cho ngụy quyền Sài Gòn 722 triệu USD viện trợ quân sự và 250 triệu USD viện trợ kinh tế. Đương nhiên đề nghị đó bị bác bỏ. Mỹ không còn nước để mà tát nữa.

Đúng 1 giờ sáng ngày 21/4/1975, quân ta tiến công giải phóng Xuân Lộc, đánh sập tuyến phòng thủ phía đông bắc của quân địch. Chiều hôm đó, qua đài Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đọc lời ai điếu, sụt sùi tuyên bố rút khỏi chức Tổng thống VNCH, nguyền rủa Kissinger, đả kích gay gắt chính quyền Mỹ đem con bỏ chợ.

Trần Văn Hương được bốc lên thay Thiệu. Phía Sài Gòn hối thúc lại Hội nghị La Celle Saint Cloud. Đáp lại, ngày 24/4, người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời (CPCMLT) tuyên bố: "Chính quyền Trần Văn Hương chỉ là chính quyền Thiệu không có Thiệu".

Dư luận Paris, cũng như dư luận chung trên thế giới, lúc đó đều coi tuyên bố này như một lời kêu gọi hàng đầu với chính quyền Sài Gòn. Mặc dù vậy, ở đoàn đại biểu ta tại Paris, tôi vẫn cảm thấy sau khi Thiệu ra đi, cuộc vận động hậu trường khá sôi nổi. Người ta hỏi: CPCMLT có chấp nhận Dương Văn Minh không? Văn phòng tướng Dương Văn Minh tại Paris do con của ông ta đại diện năm lần, ba lượt nhắn rằng nếu CPCMLT chấp nhận Dương Văn Minh thì sẽ có thương lượng và có hòa bình. Còn nhiều hiện tượng khác lạ nữa. Tướng Nguyễn Khánh đánh tiếng là ông ta sẽ đi Mỹ vận động, chỉ cần có sự đồng ý của CPCMLT. Một nhân vật thuộc lực lượng thứ ba nhắn tin sẽ về Sài Gòn gấp và hỏi ta có dặn dò gì không? Điều mà chúng tôi quan tâm lúc này là: nếu ta đưa đại quân giải phóng Sài Gòn thì liệu Mỹ có trực tiếp can thiệp trở lại không? Đó cũng là điều mà "Nhà" cần chúng tôi báo cáo về, qua các nguồn tin nắm được. Tôi thầm nghĩ: "Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản!" (Hạc vàng một khi đã bay đi sẽ không trở lại).

Ngày 28/4/1975, tại Sài Gòn, chính quyền Dương Văn Minh được lập ra, tự xưng là chính quyền hòa giải, hòa hợp dân tộc, đề nghị ngừng bắn để thương lượng. Một nước cờ quá muộn màng. Từ 6 hướng, 4 quân đoàn của ta đã cùng tiến vào Sài Gòn.

Thở phào nhẹ nhõm!

Trên truyền hình Paris, vào những ngày đó, hình ảnh về các cuộc tiến công của ta thường xuyên được đưa lên. Đêm 29/4, chúng tôi đã nhận thấy cả một số cánh quân của ta. Cũng đêm đó, không một ai trong đoàn chúng tôi ngủ được. Khoảng 3 giờ sáng - giờ Paris tức 9 giờ sáng - giờ Hà Nội, ngày 30/4, một cú điện thoại từ một hãng thông tấn gọi đến "Có phải các ông đã giải phóng Sài Gòn rồi không?". Chữ “đã” buộc chúng tôi phải cân nhắc: xác nhận hay không xác nhận? Nếu nói đã có nghĩa là việc giải phóng đã xong rồi. Mà chúng tôi nào có trực tiếp nhận được tin từ chiến trường. Nói “đã” mà chưa xong thì bất ổn. Còn nói chưa nhận được tin chính thức, lại càng bất ổn hơn.

Tôi đã trao đổi nhanh ý kiến với anh Đinh Bá Thi và trả lời: "Việc giải phóng Sài Gòn đang diễn ra và đại quân chúng tôi đang tiến lên giải phóng toàn bộ miền Nam". Tôi cảm thấy nói thế là cầm chắc phần đúng. Hơn hai giờ sau, khoảng 5 giờ sáng - giờ Paris, lúc đó trời còn tối, lại một câu hỏi khác được chuyển đến: "Chính phủ Dương Văn Minh đã đầu hàng. Vậy chủ trương của Chính phủ Cách mạng đối với miền Nam Việt Nam là gì?". Lại một lần nữa, chúng tôi bị bất ngờ. Dương Văn Minh đã đầu hàng là thông tin sáng giá nhất, kịp thời nhất mà người ta cung cấp cho mình. Còn chủ trương của CPCMLT đã có sẵn. "Xây dựng miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc, dân chủ, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc". Tôi cứ thế trả lời. Không ngờ, sáng hôm đó, khi đọc các tờ báo xuất bản ở Paris thì thấy, ngay trên tờ Le Figaro một dòng tít lớn, nêu bật chủ trương trên, rằng đó là Tuyên bố của CPCMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bất giác tim tôi đập thình thịch. Không biết sau khi đã Giải phóng miền Nam, ta có còn giữ khẩu hiệu trung lập nữa không? Mãi đến hôm sau, khi nghe diễn văn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc tại buổi mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1/5 tại Hà Nội, vẫn còn hai chữ trung lập, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.

Ấn tượng ở Paris

Ngày 30/4/1975, tại Paris điều gì gây dấu ấn sâu sắc nhất đối với chúng tôi? Không phải những dòng tít lớn trên các báo. Cũng không phải những bản tin đưa tin liên tục trên làn sóng phát thanh hay những hình ảnh sống động qua truyền hình về sự kiện trọng đại này. Không có chuyện nhân dân đổ ra đường mừng chiến thắng như ở Hà Nội và nhiều nơi khác. Paris có cách riêng của mình để tiếp nhận sự kiện chấm dứt một cuộc chiến tranh cục bộ kéo dài nhất, cũng ác liệt nhất kể từ sau Chiến tranh do chính Pháp tiến hành.

Tôi muốn nói đến một việc cụ thể: sự rối loạn trong mạng lưới điện thoại. Suốt cả buổi sáng, chúng tôi không thể nào gọi được một cú điện thoại từ cơ quan của đoàn ra ngoài, và cũng rất hiếm nhận được một cú điện thoại nào từ ngoài vào. Dường như tất cả các máy điện thoại có liên quan đều có tín hiệu bận. Người ta gọi báo tin cho nhau. Mãi về sau, qua những lời trách móc hay thanh minh, chúng tôi mới hiểu rằng những cú điện thoại gọi đến chúng tôi không chỉ từ trong Paris, trong nước Pháp mà cả từ nhiều thành phố khác, nước khác. Người gọi là những anh em, bè bạn, đồng chí, những chính khách, nhà ngoại giao, nhà báo, những người vốn có cảm tình và cả những người chưa từng bày tỏ cảm tình với cuộc kháng chiến của chúng ta. Ai cũng muốn nói lên một cái gì đó, một tâm tư, một tình cảm, một thái độ, một sự chia sẻ niềm vui đối với cái ngày sẽ ghi vào lịch sử của dân tộc ta như một ngày chiến thắng vĩ đại.

Nếu cần nói thêm một điều gì nữa, đó chính là những cuộc chúc tụng tại chỗ, ở cơ quan đoàn chúng tôi, cũng như ở Phòng Thông tin của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Paris, ở Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở cả ba cơ quan suốt cả ngày 30/4/1975 và những ngày sau đó, không biết bao nhiêu đoàn người, cá nhân và tập thể, Việt kiều và những người bạn Pháp, đã mang hoa đến tặng. Ai cũng muốn được dành cho mình nhiều thì giờ hàn huyên, nhưng không được nữa rồi, người này chưa ra, người khác đã đến. Tôi cứ nhớ mãi trong những đoàn người đó, có ni sư Mạn Đà La đã từng gặp chúng tôi trong một cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam tại Anh vào tháng 10/1972. Bây giờ, vào ngày 30/4/1975 này, bà vừa chúc mừng chính bản thân bà, những người như bà, những người là nhà sư, là linh mục, đã từng đóng góp phần mình cho sự nghiệp chung của dân tộc.

Hà Đăng

(Trích trong cuốn Mặt trận Dân tộc Giải phóng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam - Hồi ức, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001).