![]() |
| Chuyên gia Malaysia cho rằng mô hình tăng trưởng mới được nêu trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng mang tầm nhìn dài hạn và có nền tảng chiến lược vững vàng. (Ảnh: Thành Long) |
Ông đánh giá như thế nào về tầm quan trọng của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự phát triển của Việt Nam trong tương lai, đặc biệt là những mục tiêu lớn mà Việt Nam đặt ra trong nhiệm kỳ này?
Tôi đánh giá mô hình tăng trưởng mới được nêu trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là cách tiếp cận có mức độ chín muồi cao, mang tầm nhìn dài hạn và có nền tảng chiến lược vững chắc để ứng phó với thực tế kinh tế toàn cầu.
Việc nhấn mạnh vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực chủ yếu của tăng trưởng cho thấy rõ Việt Nam đang chuyển dịch khỏi mô hình phát triển dựa chủ yếu vào chi phí lao động thấp và lợi thế địa lý, sang mô hình dựa trên năng suất, các hoạt động có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh dài hạn. Hướng đi này hoàn toàn phù hợp với quỹ đạo của những quốc gia đã thành công trong việc nâng cấp cơ cấu kinh tế khi vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình.
![]() |
| Tiến sĩ Ku Boon Dar, Đại học Malaya, Malaysia. (Ảnh: Chu Văn) |
Từ góc độ quản trị, mô hình này phản ánh năng lực hoạch định chiến lược của Nhà nước và một tầm nhìn phát triển quốc gia rõ ràng. Việt Nam không theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá; thay vào đó, Việt Nam ưu tiên tăng trưởng chất lượng cao, được neo giữ bởi ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, kỷ luật tài khóa và tính bền vững – một cách tiếp cận có thể gọi là “tăng trưởng đi cùng kỷ cương”.
Thành tích gần đây của Việt Nam cho thấy Việt Nam có khả năng duy trì ổn định vĩ mô, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ổn định, đồng thời mở rộng cân đối cả khu vực công nghiệp lẫn kinh tế số.
Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% cho giai đoạn 2026-2030 rõ ràng là rất tham vọng, nhưng không phải là phi thực tế nếu xét đến năng lực của Việt Nam.
Việc đạt được mục tiêu này sẽ phụ thuộc vào sự phối hợp chính sách ở mức độ rất cao giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, chiến lược công nghiệp, chương trình chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực, hệ thống giáo dục - kỹ năng, cũng như quản trị đầu tư và đổi mới sáng tạo. Khả năng đồng thời đồng bộ hóa nhiều công cụ chính sách này chính là một trong những lợi thế then chốt của Việt Nam so với nhiều nền kinh tế mới nổi khác.
Theo tôi, sức mạnh cốt lõi của mô hình này nằm ở năng lực nhà nước của Việt Nam, tức là năng lực thể chế trong việc tập trung các ưu tiên quốc gia, huy động nguồn lực một cách hiệu quả và triển khai tái cơ cấu kinh tế theo lộ trình nhưng nhất quán. Năng lực này không hình thành trong một sớm một chiều; nó là kết quả của quá trình cải cách dài hạn, kỷ luật thể chế và sự lãnh đạo chính sách bền bỉ. Chính nền tảng đó khiến mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam không chỉ là một tuyên bố chính sách, mà là một chiến lược chuyển đổi quốc gia đáng tin cậy, với xác suất thực thi thành công rất cao.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, ông nhìn nhận thế nào về tầm nhìn hội nhập vào dòng chảy chính của thời đại, cũng như đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, là bạn và đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế, đồng thời tích cực đóng góp vào gìn giữ hòa bình và giải quyết các thách thức toàn cầu của Việt Nam?
Trong một môi trường chính trị toàn cầu ngày càng bất định do cạnh tranh nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ công nghệ, căng thẳng thuế quan và bất ổn địa chính trị, tôi nhận thấy chiến lược của Việt Nam vẫn kiên định với mục tiêu hội nhập chủ động vào dòng chảy chính của thế giới, đồng thời duy trì một chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và có nguyên tắc – một hình thức cân bằng chiến lược rất thực tế và chặt chẽ. Cách tiếp cận và các biện pháp mà Việt Nam thực hiện không chỉ thể hiện rõ ràng và nhất quán định hướng đối ngoại, mà còn cho thấy khả năng quản lý quan hệ quốc tế một cách độc lập, linh hoạt và cân bằng, không lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào. Đây chính là sức mạnh của “ngoại giao cây tre” mà Việt Nam theo đuổi.
Điều còn ấn tượng hơn về mặt chiến lược là khả năng của Việt Nam trong việc tự định vị mình như một đối tác kinh tế và ngoại giao ổn định, đáng tin cậy. Việt Nam xây dựng được niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế và các đối tác khu vực mà không đánh đổi các nguyên tắc về chủ quyền và lợi ích quốc gia. Quan hệ kinh tế rộng khắp của Việt Nam với nhiều đối tác chiến lược chủ chốt tại châu Á, châu Âu và châu Mỹ cho thấy Việt Nam đã chuyển hóa thành công đường lối đối ngoại tự chủ và cân bằng thành những lợi ích kinh tế và ngoại giao cụ thể.
Đồng thời, khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 phản ánh nhận thức sâu sắc của Việt Nam rằng hội nhập toàn cầu không chỉ là vấn đề khẩu hiệu hay mở cửa thị trường. Điều đó đòi hỏi thể chế vững mạnh, quản trị hiệu quả, môi trường kinh doanh năng động và cam kết cải cách liên tục. Vì vậy, tôi vẫn cho rằng Việt Nam hiểu rõ năng lực cạnh tranh dài hạn phụ thuộc chủ yếu vào việc tăng cường nội lực và năng lực thể chế trong nước, chứ không chỉ dựa vào môi trường bên ngoài.
Trong xử lý các vấn đề an ninh và thách thức toàn cầu, lập trường ưu tiên hợp tác, ổn định khu vực và các giải pháp chung của Việt Nam có ý nghĩa rất lớn đối với Đông Nam Á, đặc biệt là ASEAN. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu, công nghệ chiến lược, an ninh năng lượng và an ninh lương thực ngày càng trở thành tâm điểm của cạnh tranh địa chính trị, cách tiếp cận mang tính xây dựng và định hướng ổn định của Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng chống chịu của cả khu vực và thế giới.
Vì vậy, Việt Nam không chỉ là một bên hưởng lợi từ hệ thống quốc tế, mà còn là một nước đóng góp tích cực cho hòa bình và ổn định khu vực, đặc biệt trong ASEAN và trên phạm vi toàn cầu.
![]() |
| Diễn đàn Tương lai ASEAN đã dần khẳng định được thương hiệu và trở thành một điểm đến uy tín. (Ảnh: Chu Văn) |
Ông đánh giá như thế nào về những đóng góp của Việt Nam đối với các vấn đề khu vực và quốc tế trong những năm gần đây, trong đó có xây dựng Cộng đồng ASEAN? Việt Nam có thể đóng góp ra sao cho việc thúc đẩy và triển khai Tầm nhìn ASEAN 2045 trong giai đoạn phát triển mới của khu vực?
Theo quan điểm của tôi, những đóng góp của Việt Nam đối với sự phát triển của ASEAN trong những năm qua mang tính xây dựng, chủ động và có tầm nhìn. Tôi nhận thấy rằng Việt Nam không còn chỉ tham gia một cách thụ động, mà đã tích cực định hình chương trình nghị sự và phương hướng phát triển của khu vực. Những bước đi của Việt Nam phản ánh sự trưởng thành trong ngoại giao, khi Việt Nam chuyển từ vai trò “người tiếp nhận chính sách” sang vai trò “người định hình nghị trình”, đặc biệt trong các vấn đề chiến lược và khuôn khổ quản trị khu vực của ASEAN.
Một ví dụ nổi bật là sáng kiến Diễn đàn Tương lai ASEAN do Việt Nam khởi xướng từ năm 2024. Theo tôi, diễn đàn này bổ trợ hiệu quả cho các cơ chế hiện có của ASEAN, tạo ra một không gian đối thoại chiến lược dài hạn về tương lai khu vực giữa các nước ASEAN và các đối tác chiến lược trong bối cảnh địa chính trị ngày càng phức tạp. Diễn đàn thể hiện vai trò lãnh đạo và tầm nhìn dài hạn của Việt Nam trong việc tăng cường sức chống chịu của ASEAN, đồng thời tạo điều kiện để các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách thúc đẩy tư duy đổi mới và nuôi dưỡng một văn hóa đối thoại chiến lược cởi mở, vượt ra ngoài sự điều phối chính sách ngắn hạn.
Liên quan đến Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 được thông qua ngày 26/5/2025, văn kiện này đặt ra khát vọng xây dựng một ASEAN tự cường, đổi mới, năng động và lấy người dân làm trung tâm. Theo tôi, Việt Nam đang ở vị thế chiến lược rất thuận lợi để đóng góp quan trọng vào việc triển khai Tầm nhìn này, thông qua ba lĩnh vực hợp tác và xây dựng năng lực thể chế then chốt.
Thứ nhất là kinh tế số và đổi mới sáng tạo khu vực. Tôi tin rằng Việt Nam có thể đóng vai trò chất xúc tác cho phát triển chung, thúc đẩy hợp tác về nhân lực số và góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới xuyên biên giới, phù hợp với chương trình chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ ở cả khu vực công và tư.
Thứ hai là khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng và hội nhập kinh tế ASEAN. Với vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất và thương mại, Việt Nam có nhiều kinh nghiệm thích ứng với các sức ép địa chính trị toàn cầu, phù hợp với nỗ lực lâu dài của ASEAN nhằm duy trì môi trường kinh tế mở trong bối cảnh quốc tế ngày càng phức tạp.
Cuối cùng, trong khuôn khổ tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và tăng cường khả năng chống chịu xã hội, Việt Nam có thể thúc đẩy hợp tác khu vực về an ninh lương thực, y tế công cộng, quản lý thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu – những lĩnh vực ngày càng được coi là trọng tâm của chương trình an ninh phi truyền thống và an ninh con người của ASEAN.
Tổng thể, tôi tin rằng Việt Nam đang giữ một vị thế chiến lược, độc đáo và có ảnh hưởng lớn trong bức tranh ASEAN hiện nay. Sự kết hợp giữa uy tín phát triển, năng lực thực thi chính sách mạnh mẽ và kinh nghiệm cải cách khiến Việt Nam trở thành một trong những "tài sản" quan trọng nhất để bảo đảm thành công của Tầm nhìn ASEAN 2045 – không chỉ là một văn kiện mang theo khát vọng, mà là một chương trình nghị sự khu vực có thể được hiện thực hóa từng bước, hiệu quả thông qua cam kết chính trị bền bỉ và hợp tác khu vực.
![]() |
| Việt Nam đang giữ một vị thế chiến lược và có ảnh hưởng lớn trong bức tranh ASEAN hiện nay. (Ảnh: Lê Thanh) |
Mọi con đường dẫn tới thành công đều không hề bằng phẳng và cần rất nhiều nỗ lực. Theo ông, trên con đường phía trước, Việt Nam có trong tay những thuận lợi nào và phải đối phó với những thách thức ra sao?
Tôi cho rằng tiềm năng phát triển của Việt Nam là rất lớn, nhưng đồng thời các thách thức mà Việt Nam phải đối mặt cũng không nhỏ. Chính thực tế kép này tạo nên bối cảnh chiến lược mà Việt Nam phải vận hành. Do đó, các yếu tố quyết định thành công trong việc đạt được các mục tiêu dài hạn, bao gồm hai cột mốc 100 năm và mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, nằm ở sức mạnh quản trị, năng lực thể chế và kỷ luật trong thực thi chính sách.
Về cơ hội, trước hết Việt Nam đang ở vị thế rất thuận lợi để nâng cấp cơ cấu kinh tế, tức là chuyển từ mô hình sản xuất lắp ráp, thâm dụng lao động sang nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, tăng năng suất và các hoạt động có giá trị gia tăng cao. Sự chuyển dịch cơ cấu này là yếu tố then chốt để tránh bẫy thu nhập trung bình, và hoàn toàn phù hợp với mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm động lực chủ đạo.
Hai là, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc các tập đoàn đa quốc gia tìm cách đa dạng hóa địa điểm sản xuất và thị trường đã đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến hàng đầu, nhờ vào ổn định chính trị, chính sách kinh tế nhất quán và năng lực sản xuất ngày càng trưởng thành. Điều này giúp Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong các mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu mới nổi.
Ba là, việc Việt Nam xác định rõ tầm nhìn quốc gia hướng tới năm 2045 là một lợi thế chiến lược mà rất ít quốc gia đang phát triển nào có được. Mục tiêu dài hạn này tạo ra sự chắc chắn về chính sách, củng cố niềm tin thị trường và giúp huy động nguồn lực – từ đầu tư, phát triển nhân lực đến cải cách thể chế – theo một lộ trình trật tự và từng bước. Sự rõ ràng đó giúp giảm thiểu biến động chính sách và khuyến khích các chủ thể trong và ngoài nước hoạch định kế hoạch dài hạn.
Tuy nhiên, các thách thức không thể xem nhẹ. Về trong nước, nhu cầu cải cách thể chế sâu rộng hơn nữa vẫn là yếu tố then chốt để bảo đảm tăng trưởng cao đi đôi với chất lượng. Điều này bao gồm việc tăng cường vai trò của khu vực tư nhân, cải thiện chất lượng việc làm và nâng cao năng suất lao động cũng như năng suất công nghệ phù hợp với trình độ phát triển mục tiêu. Nếu không có các cải cách này, tăng trưởng nhanh có nguy cơ trở nên mong manh và thiếu bền vững.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu – thể hiện qua lũ lụt, thời tiết cực đoan và nhu cầu chuyển đổi năng lượng – có thể tác động trực tiếp đến tăng trưởng dài hạn nếu không được xử lý một cách hệ thống và toàn diện. Những vấn đề này chắc chắn đòi hỏi đầu tư lớn, quy hoạch dài hạn và hợp tác quốc tế mạnh mẽ, đồng thời đặt ra bài kiểm tra đối với năng lực quản trị của Việt Nam trong việc xử lý các rủi ro phức hợp, liên ngành.
Về đối ngoại, môi trường địa chính trị ngày càng biến động, với cạnh tranh nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, căng thẳng thuế quan cũng như sự khác biệt về tiêu chuẩn công nghệ và thương mại, sẽ đòi hỏi một nền ngoại giao rất linh hoạt, khéo léo và có tầm nhìn xa. Tôi cho rằng Việt Nam có đủ năng lực để duy trì một chính sách đối ngoại cân bằng và có nguyên tắc – một "tài sản" quan trọng để vượt qua những bất định toàn cầu hiện tại và tương lai, bảo vệ lợi ích quốc gia đồng thời giữ vững tự chủ chiến lược.
Nhìn chung, như tôi đã nêu, tôi vẫn hết sức lạc quan về quỹ đạo phát triển của Việt Nam. Việt Nam đã chứng minh được khả năng kết hợp tầm nhìn dài hạn với việc triển khai kỷ luật và nhất quán. Tôi tin rằng với thành công của Đại hội XIV, cùng với cam kết mạnh mẽ trong việc tăng cường năng lực thể chế và không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 của Việt Nam không chỉ là một khát vọng quốc gia, mà hoàn toàn có tiềm năng trở thành một thành tựu lịch sử – đánh dấu sự chuyển mình thành công của Việt Nam từ một nền kinh tế đang phát triển sang một quốc gia hiện đại hóa toàn diện.
Trân trọng cảm ơn ông!
| Hà Nội: Tạm cấm, hạn chế phương tiện trong các ngày 14/1 và 19-25/1 Công an TP. Hà Nội thông báo tạm cấm, hạn chế phương tiện một số thời điểm trong ngày 14/1 và các ngày 19-25/1 nhằm ... |
| Học giả quốc tế: Đại hội XIV của Việt Nam là dấu mốc mở ra giai đoạn 'bứt phá chiến lược' Nhiều chuyên gia, học giả đến từ các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Italy đã nhận định về ý nghĩa và tầm quan trọng ... |
| Đại hội XIV của Đảng: Các tỉnh Hưng Yên, Tây Ninh nêu bật trọng tâm tăng trưởng Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các tỉnh Hưng Yên và Tây Ninh đã đề ra những mục ... |
| Chuyên gia Áo: Chính sách đối ngoại của Việt Nam là 'ngọn hải đăng hy vọng' đối với cả thế giới Chia sẻ với TG&VN ngay trước thềm Đại hội XIV của Đảng, Tiến sĩ Patrick Horvath, Tổng thư ký Quỹ Chính sách kinh tế khoa ... |
| Tổng duyệt công tác tổ chức phục vụ Đại hội Đảng lần thứ XIV: Tăng cường kiểm tra bảo đảm an toàn tuyệt đối Sáng 14/1, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại ... |



