📞

Đại hội XIV của Đảng: Đối nội - Đối ngoại trở thành 'hai cánh của một con chim' để Việt Nam bay cao, vươn xa

Hà Phương (thực hiện) 07:56 | 18/01/2026
Chia sẻ với TG&VN, Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh kỳ vọng khi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được triển khai vào thực tiễn, đối ngoại Việt Nam không chỉ giỏi nắm bắt thời cơ, mà còn chủ động tạo ra thời cơ và cơ hội, đồng thời giữ vững bản sắc đối ngoại Việt Nam: hòa hiếu, nhân văn nhưng kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

Thực tiễn quá trình ra đời, đấu tranh, phát triển của đất nước luôn gắn liền với các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh – cũng là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên đã xác định đối ngoại phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng với những phương châm như “vừa đánh, vừa đàm”, đặt Việt Nam trong dòng chảy của cách mạng thế giới... Tiếp cận vai trò của đối ngoại với “cơ đồ” của đất nước, Tiến sĩ có nhìn nhận như thế nào về những ý kiến này?

Đây là một câu hỏi rất hay, gợi lại một chân lý lịch sử sâu sắc. Chúng ta nhớ rằng ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên. Khi đó, Người không coi ngoại giao chỉ là một thủ tục hành chính, mà xác định đây là một mặt trận, một lực lượng xung kích của cách mạng.

Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thành Long)

Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại coi đối ngoại là một mặt trận? Bởi trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, đối ngoại phải cùng với các hoạt động khác tìm kiếm sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, biến sức mạnh của thời đại thành sức mạnh dân tộc, trong điều kiện nền độc lập dân tộc còn rất non trẻ. Đồng thời, đối ngoại là một binh chủng hợp thành, cùng với các binh chủng khác. Đối ngoại không phải là một hoạt động độc lập, mà được đặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

“Bất biến” ở đây là độc lập dân tộc, là lợi ích quốc gia – dân tộc, những giá trị không bao giờ thay đổi. Để đạt được cái bất biến đó, chúng ta phải linh hoạt, uyển chuyển – tức là “ứng vạn biến”. Trong “ứng vạn biến” có nhiều phương cách khác nhau, và đối ngoại là một trong những phương cách, cùng với các binh chủng khác hợp thành sức mạnh tổng hợp để giữ vững nền độc lập dân tộc, phục vụ lợi ích quốc gia.

Trong cơ đồ đất nước hiện nay, như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Để đạt được hai mục tiêu 100 năm vào các mốc 2030 và 2045, với một cơ đồ rạng rỡ và tương lai xán lạn như vậy, đối ngoại sẽ càng gánh vác trọng trách và nhiệm vụ quan trọng hơn rất nhiều.

Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có thể nói chúng ta đã tiếp tục hoàn thiện và khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức. Những “điều làm được” lớn nhất theo Tiến sĩ mà đối ngoại Việt Nam đã làm được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII mà chúng ta sắp bước qua đây là gì?

Nhìn tổng thể một nhiệm kỳ 5 năm, và không tách rời khỏi tiến trình phát triển liên tục của đất nước, có thể khẳng định rằng thành công của nhiệm kỳ này là kết quả của cả một quá trình phấn đấu và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Tôi hoàn toàn chia sẻ quan điểm khi nhấn mạnh đến bản sắc ngoại giao Việt Nam – một bản sắc được hình thành từ cha ông, được kết tinh ở đỉnh cao là tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, mang bản sắc rất riêng. Theo quan điểm cá nhân tôi, một trong những thành công lớn nhất của đối ngoại nhiệm kỳ Đại hội XIII là việc tiếp tục hoàn thiện và khẳng định mạnh mẽ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, qua đó đặt nền móng để tiến tới tự chủ chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIV.

Ngoài tổng thể chung đó, tôi xin nhấn mạnh ba điểm nổi bật.

Thứ nhất, chúng ta đã giữ vững được cục diện hòa bình, ổn định để phát triển. Việt Nam xử lý hài hòa quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn và các đối tác khác, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc. Chúng ta không để rơi vào thế kẹt trong vòng xoáy cạnh tranh này, mà xử lý rất khéo léo, đồng thời nâng cấp quan hệ với nhiều nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – điều rất hiếm quốc gia trên thế giới làm được.

Cần nhấn mạnh rằng, quan hệ chỉ được nâng cấp khi hai bên cùng cần nhau. Không phải Việt Nam cần thì nâng cấp, mà là cả hai phía đều thấy cần thiết. Điều đó cho thấy vị thế của Việt Nam đã được nâng lên rất cao.

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm chính thức Vương quốc Anh, nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác chiến lược toàn diện tháng 10/2025. Như vậy, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Thứ hai, đối ngoại đã góp phần quan trọng nâng tầm vị thế đất nước, đặc biệt thông qua đối ngoại đa phương. Việt Nam ngày càng thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, chủ động tham gia kiến tạo, đóng góp sáng kiến tại nhiều tổ chức đa phương như Liên hợp quốc, ASEAN và các diễn đàn kinh tế quan trọng khác. Từ chỗ tham gia các “luật chơi” có sẵn, Việt Nam từng bước tham gia định hình luật chơi, thậm chí vươn lên giữ vai trò dẫn dắt, trước hết là trong khu vực ASEAN.

Thứ ba, chúng ta đã thành công trong ngoại giao kinh tế và ngoại giao vaccine. Đại dịch Covid-19 là một biến động rất lớn ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, đường lối đối ngoại sáng suốt, kịp thời huy động được nguồn vaccine lớn, giúp Việt Nam chủ động kiểm soát dịch bệnh, chuyển sang trạng thái bình thường mới, tạo điều kiện cho phục hồi và phát triển kinh tế. Thành quả tăng trưởng 8,02% là minh chứng rõ nét và là tiền đề cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.

Trong không khí phấn khởi của Đại hội XIV của Đảng, những người làm công tác đối ngoại, quốc tế không khỏi bồi hồi khi thấy rằng một trong những điểm mới, quan trọng trên lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng là lần đầu tiên xác định đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế cùng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Là một chuyên gia nghiên cứu về quốc tế, đối ngoại, Tiến sĩ cảm xúc như thế nào? Từ đó có những nhìn nhận ra sao về một bước ngoặt tư duy, tầm nhìn chiến lược này của Đảng ta?

Nếu nói về cảm xúc trước bước ngoặt tư duy này, cảm xúc đầu tiên của tôi là tự hào – tự hào về sự lớn mạnh và trưởng thành của ngành đối ngoại. Trước đây, trong các văn kiện, quốc phòng – an ninh được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; nay đối ngoại đã được đặt ngang hàng với quốc phòng – an ninh, cùng được coi là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Đó là niềm phấn khởi và tự hào, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm. Trách nhiệm của những người làm đối ngoại trong thực tiễn, cũng như của những người nghiên cứu về đối ngoại và hợp tác quốc tế như chúng tôi. Trách nhiệm nghiên cứu sẽ nặng nề hơn; còn các đồng chí ở Bộ Ngoại giao, các nhà ngoại giao, đặc biệt là các Đại sứ, cũng sẽ gánh vác trách nhiệm lớn hơn đối với đất nước, Tổ quốc và nhân dân, khi vai trò, vị thế của đối ngoại đã được xác định ngang tầm với quốc phòng và an ninh.

Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên chúng tôi tiếp cận cách nhìn này. Qua nghiên cứu tại các cơ sở nghiên cứu trong nước, cũng như qua các kiến nghị của các cơ quan làm công tác đối ngoại như Bộ Ngoại giao hay Ban Đối ngoại Trung ương trước đây, từ một, hai nhiệm kỳ trước đã có đề xuất coi đối ngoại ngang tầm với quốc phòng và an ninh. Có chăng là “độ chín” chưa đủ; đến nhiệm kỳ này, điều kiện đã chín muồi.

Đây là một bước ngoặt tư duy. Bởi chúng ta đã thay đổi cách tiếp cận. Trong một thời gian tương đối dài, chúng ta coi đối ngoại là cánh tay nối dài của đối nội. Nhưng nếu coi đất nước như một con chim, thì con chim không thể cất cánh bằng một chiếc cánh, mà phải bằng hai cánh, với sự phối hợp nhịp nhàng để bay cao, bay xa.

Đến thời điểm này, chúng ta đã nhìn nhận đúng sự trưởng thành của đối ngoại. Đối ngoại không còn là cánh tay nối dài của đối nội, mà đối nội và đối ngoại là hai cánh của một con chim, giúp con chim Việt Nam bay cao, bay xa trên bầu trời thế giới. Vì vậy, cảm xúc của tôi vừa là tự hào, vừa là ý thức rất rõ về trách nhiệm nặng nề hơn trong thời gian tới.

Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu tại phiên khai mạc Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng tháng 10/2025.

Đại hội XIV của Đảng còn đặt ra yêu cầu "phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước". Theo Tiến sĩ, một “thế” nước đang lên sẽ là điểm tựa như thế nào cho đối ngoại và ngược lại, một nền đối ngoại giàu truyền thống và bản lĩnh sẽ nâng tầm vị thế đất nước ra sao?

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết rất sinh động rằng: thực lực của quốc gia là cái chiêng, còn ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn. Thực lực kinh tế, thực lực quốc phòng – an ninh như thế nào sẽ tạo điều kiện để ngoại giao tự tin hơn, chững chạc hơn khi tham gia các diễn đàn đa phương và quan hệ quốc tế.

Thế nước của chúng ta đang lên, vận nước đang lên, cơ hội và vị thế quốc gia ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Chính điều đó tạo ra thực lực để Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ hơn, tự tin hơn trong quan hệ đối ngoại.

Nhìn lại chặng đường phát triển của đất nước, chúng ta có thể thấy rất rõ sự chuyển biến này: từ chỗ “Việt Nam muốn là bạn” với tất cả các nước, đến “Việt Nam sẵn sàng là bạn”, rồi “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy”, và hiện nay là “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đây không chỉ là thay đổi về câu chữ, mà phản ánh sự thay đổi về sức mạnh nội tại của đất nước. Thế nước thay đổi thì vị thế trong đối ngoại và ngoại giao cũng thay đổi theo.

Ở chiều ngược lại, một nền đối ngoại giàu truyền thống và bản lĩnh sẽ giúp huy động nguồn lực cho phát triển: từ vốn đầu tư, hợp tác kinh tế, đến ổn định chính trị và mở rộng quan hệ với bạn bè quốc tế. Sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại sẽ tạo điều kiện để đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã đánh giá rằng từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới. Song đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt hai mục tiêu chiến lược năm 2030 và năm 2045. Với những kinh nghiệm và bài học đối ngoại đã được tôi luyện qua 8 thập kỷ xây dựng và trưởng thành, đối ngoại Việt Nam có thể tiên phong, mở đường cho hành trình “nước rút” đó như thế nào của Việt Nam, thưa Tiến sĩ?

Khi khoa học – công nghệ phát triển càng nhanh, cục diện thế giới thay đổi càng nhanh. Trước đây, có khi phải mất hàng nghìn năm cục diện thế giới mới thay đổi; sau đó là vài trăm năm, vài chục năm, và hiện nay, chỉ trong vài năm, thậm chí rất ngắn, cục diện thế giới đã có thể biến đổi sâu sắc. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải chủ động, linh hoạt để ứng phó.

Thế giới biến động rất nhanh, chúng ta không thể “ngủ quên”. Trong bối cảnh đó, đối ngoại phải kịp thời thích ứng với sự thay đổi của cục diện thế giới, phối hợp với các lĩnh vực khác để xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Theo quan điểm của tôi, vai trò tiên phong của đối ngoại trước hết là tạo ra và nắm bắt cơ hội. Khi có cơ hội, phải nhanh chóng tận dụng; nhưng hơn thế, trong bối cảnh thế và lực của đất nước đã khác trước rất nhiều, đối ngoại còn phải chủ động tham gia tạo ra cơ hội cho phát triển – từ kinh tế, quốc phòng – an ninh, đến văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc gia. Ngoại giao không chỉ chờ cơ hội đến, mà phải đi ra thế giới sớm nhất để nhận diện, mở ra và tạo điều kiện cho đất nước nắm bắt cơ hội phát triển.

Công tác Đối ngoại nhân dân luôn là một trọng tâm trong công tác triển khai đối ngoại thời gian qua.

Để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, có lẽ điều quan trọng là phải vận hành tốt “hệ sinh thái đối ngoại” thống nhất và đồng bộ với 3 trụ cột (Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân). Tiến sĩ suy nghĩ như thế nào về sức mạnh của một kết cấu đồng nhất này?

Để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, việc vận hành hiệu quả “hệ sinh thái đối ngoại” với ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân là hết sức quan trọng. Đây là thế chân kiềng ba chân, không thể coi nhẹ hay đề cao riêng lẻ bất kỳ trụ cột nào.

Đối ngoại Đảng tạo nền tảng chính trị vững chắc; ngoại giao Nhà nước cụ thể hóa chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng thông qua các kênh chính thức; đối ngoại nhân dân phát huy sức mạnh mềm, xây dựng mạng lưới hữu nghị bền chặt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Thế chân kiềng này đã phát huy sức mạnh rất lớn trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, và trong thời bình tiếp tục chứng minh hiệu quả rõ nét. Điều quan trọng là hiệu quả, và đây chính là một nét đặc sắc của đối ngoại Việt Nam.

Dù tổ chức bộ máy có những điều chỉnh, nhưng hoạt động đối ngoại Đảng vẫn được duy trì, phối hợp chặt chẽ với ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trong thời gian tới, việc tiếp tục tăng cường sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba trụ cột này, đồng thời kết hợp với các lực lượng quốc phòng, an ninh, sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, củng cố niềm tin và sự ủng hộ của bạn bè thế giới đối với Việt Nam.

Trước thềm Đại hội Đảng XIV đang đến rất gần, trước những dấu chân đầu tiên trong kỷ nguyên vươn mình, Tiến sĩ kỳ vọng như thế nào đối với một “tầm cao mới” của đối ngoại Việt Nam với nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên vì quốc gia – dân tộc?

Tôi kỳ vọng rằng, sau Đại hội XIV, khi Nghị quyết được triển khai vào thực tiễn, đối ngoại Việt Nam không chỉ giỏi nắm bắt thời cơ, mà còn chủ động tạo ra thời cơ và cơ hội, đồng thời giữ vững bản sắc đối ngoại Việt Nam: hòa hiếu, nhân văn nhưng kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

Với những bài học ngoại giao mà cha ông để lại, với hơn 8 thập kỷ xây dựng và trưởng thành của nền đối ngoại – ngoại giao Việt Nam, được kết tinh trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi tin rằng đến các mốc kỷ niệm 100 năm vào năm 2030 và 2045, chúng ta sẽ được chứng kiến một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!