📞

Dấu ấn 40 năm đổi mới: Sức bật của nền kinh tế Việt Nam

TS. Nguyễn Minh Phong 16:48 | 14/02/2026
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đạt những bước tiến toàn diện về kinh tế, hội nhập và an sinh xã hội, khẳng định vị thế quốc tế ngày càng cao và tạo nền tảng vững chắc hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh tế Việt Nam đã cải thiện cả về lượng và chất. (Nguồn: Pexels)

Kinh tế cải thiện cả về lượng và chất

Từ khi công cuộc Đổi mới toàn diện khởi xướng năm 1986, đến năm 2000, Việt Nam từ một quốc gia nghèo đói đã thoát khỏi khủng hoảng, chuyển mình mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hội nhập sâu rộng với thế giới, cơ bản bảo đảm được an ninh lương thực và vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu.

Năm 1986, Việt Nam đối mặt khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng, lạm phát phi mã, thiếu lương thực, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân rất khó khăn, quy mô nền GDP chỉ khoảng 8 tỷ USD, đứng thứ 9/10 trong ASEAN, chỉ xếp trên Myanmar, GDP bình quân đầu người khoảng 200-300 USD thuộc nhóm nghèo nhất thế giới...

Về con số, trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân chỉ đạt 4,4% thì liên tiếp các giai đoạn sau đó ghi nhận các tiến bộ nổi bật với mức tăng trưởng khá cao. Giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm. Giai đoạn 2001-2005 đạt 7,34% và giai đoạn 2006-2010 duy trì mức 6,32%/năm. Quy mô GDP năm 2010 đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000.

Sang đến giai đoạn 2011-2020, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP đạt bình quân 5,9%/năm; giai đoạn 2016-2019 đạt 6,8%/năm. Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất của khu vực và IMF đánh giá Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019.

Đáng chú ý, từ đầu thập niên 2020 đến nay, Việt Nam ghi dấu ấn khi liên tục nằm trong nhóm các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu khu vực và thế giới.

Năm 2025, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều dấu mốc phát triển mới, với tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất khu vực và liên tục trong 5 năm nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới. Quy mô nền kinh tế ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, xếp thứ 32 toàn cầu và đứng thứ 4 trong ASEAN. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao. Cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng tiếp tục chuyển biến tích cực, trong khi lạm phát được kiểm soát ở mức dưới 4%.

Bên cạnh đó, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm vững chắc; quy mô thương mại quốc tế vượt 930 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm dần, phản ánh quá trình chuyển dịch theo hướng hiện đại. Kinh tế tư nhân hiện đóng góp trên 50% GDP, tạo ra khoảng 90% số việc làm và chiếm 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 28% tổng thu ngân sách, thu hút khoảng 0,7 triệu lao động, tương đương 7,3% lực lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp.

Đáng chú ý, Việt Nam liên tục cải thiện nhiều chỉ số xếp hạng quốc tế quan trọng khác như: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI), Chỉ số nền kinh tế có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu, Chỉ số nước đáng sống nhất thế giới, Chỉ số các nước an toàn nhất, Chỉ số quốc gia hạnh phúc, Chỉ số xếp hạng bảo vệ nhà đầu tư; Chỉ số các quốc gia "tốt nhất thế giới" và Chỉ số quyền lực mềm toàn cầu.

Từ năm 2021, Việt Nam đã chính thức được xếp vào nhóm các nền kinh tế có "tự do trung bình", đứng thứ 90/184 nền kinh tế trên thế giới trong bảng xếp hạng Chỉ số tự do kinh tế của Heritage Foundation (Mỹ). Trong xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) – cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc, Việt Nam xếp thứ 44 – nằm trong khoảng tin cậy (từ khoảng 42 đến 47) của thứ hạng này.

Việt Nam là một trong 7 quốc gia thu nhập trung bình đạt được nhiều tiến bộ nhất về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) trong thập kỷ qua, xếp thứ 4 khu vực Đông Nam Á, thứ 2 trong nhóm 36 nền kinh tế thu nhập trung bình thấp và thứ 44/139 quốc gia và nền kinh tế trong năm 2024 và năm 2025.

Công nghiệp công nghệ số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số nhanh nhất Đông Nam Á trong 3 năm liên tiếp gần đây, với khoảng 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP.

Việt Nam cũng xếp thứ 30 trong bảng xếp hạng các quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, trong đó chỉ số sẵn sàng trí tuệ nhân tạo (AI) của Việt Nam xếp hạng 55 toàn cầu và xếp thứ 6/10 trong ASEAN; chỉ số tích hợp phát triển bưu chính của Việt Nam công bố trong tháng 10/2023 tăng 4,5 điểm, thuộc nhóm các nước đạt cấp độ 6/10, lên 1 cấp độ so với kỳ đánh giá trước và đứng thứ 7/30 trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Theo StartupBlink, Chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 55/100 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Vị thế quốc tế ngày càng củng cố

Việt Nam ngày càng chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và đầy đủ, trở thành đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế và hiện có quan hệ ngoại giao với tất cả thành viên Liên hợp quốc.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh của Việt Nam được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được giữ vững; uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao. Việt Nam tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới; có quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 nước và vùng lãnh thổ; có 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.

Năm 2025, Việt Nam có kim ngạch xuất nhập khẩu trên 930 tỷ USD, với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27% và xuất siêu hàng hoá ghi dấu mốc 10 năm liên tục và đạt trên 20 tỷ USD…

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô. Hàng năm, Việt Nam có trên 30 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD và đứng thứ hạng cao trên thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, điện thoại di động, máy vi tính, sản phẩm điện tử, máy ảnh.

Hiện nay, gần 30 quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Tổng ODA từ năm 1993 đến nay đạt trên 80 tỷ USD vốn cam kết, trên 40 tỷ USD giải ngân. Việt Nam cũng nằm trong top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới và tăng đều qua các năm.

Đặc biệt, Việt Nam liên tục là điểm đến hấp dẫn nhất trên thế giới trong dòng vốn đầu tư dịch chuyển khu vực và quốc tế nhờ ưu thế ổn định chính trị, dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng và lượng người tiêu dùng có thu nhập trung bình đang tăng nhanh, hạ tầng ngày càng phát triển đồng bộ và hiện đại.

Việt Nam đang và sẽ có sự gia tăng mạnh mẽ và sâu hơn vào một số chuỗi cung ứng mới của thế giới trong nhiều lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công nghệ cao, bán lẻ, chip bán dẫn, thực phẩm, sản xuất kho bãi, tài chính ngân hàng…

Từ nước nhận đầu tư một chiều, gần đây đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng tăng nhanh, với tổng cộng hàng nghìn dự án và khoảng 20 tỷ USD vốn đăng ký và tăng thêm. Trong khi đó, tổng vốn FDI giai đoạn 2021-2025 đạt 185 tỷ USD, tăng gần 9% so với giai đoạn 5 năm trước và thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.

Chất lượng sống ngày càng nâng cao

Việt Nam đã chính thức ra khỏi tình trạng quốc gia kém phát triển từ năm 2010. Đến năm 2012, Việt Nam hoàn thành trước thời hạn toàn bộ các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) đặt ra cho năm 2015, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những điểm sáng về phát triển bao trùm.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế, Việt Nam nằm trong nhóm 8 quốc gia đạt tiến độ thực hiện Mục tiêu MDG4 về giảm tỷ lệ tử vong trẻ em và thuộc nhóm 9 quốc gia đạt tiến độ thực hiện Mục tiêu MDG5 về giảm tỷ lệ tử vong mẹ. Đồng thời, Việt Nam xếp thứ 27/101 quốc gia đang phát triển về năng lực giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, từ 22% năm 2006 xuống còn dưới 10% vào cuối năm 2013.

Không chỉ đạt tiến bộ về kinh tế - xã hội, Việt Nam còn ghi nhận bước tiến rõ nét trong phát triển bền vững. Theo khảo sát và đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số thực hiện SDGs của Việt Nam liên tục được cải thiện, từ vị trí 88 năm 2016 lên 57 năm 2018 và đạt vị trí 49 vào năm 2020.

Các lĩnh vực văn hóa – xã hội đạt nhiều bước tiến rõ nét cả về nhận thức, hành động và kết quả; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì dưới 3%; tuổi thọ trung bình đạt 74,7 tuổi; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước đạt 29,2%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế vượt 95,2% vào năm 2025.

Trên bình diện quốc tế, theo đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020; chỉ số phát triển con người tăng 18 bậc, đạt vị trí 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ; chỉ số phát triển bền vững xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016.

Những thành tựu này là kết quả của quá trình Đảng thống nhất và trực tiếp lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh của toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và xây dựng đất nước với tinh thần nỗ lực, bền bỉ và kiên định. Qua đó, tạo nền tảng và động lực quan trọng để Việt Nam vươn lên phát triển kinh tế bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.