Thưa ông, nếu nói về những thành tích mà Học viện đã đạt được trong cả quá trình hình thành và phát triển, điều gì là đáng nói nhất?
Điều khiến chúng tôi tự hào nhất đó là đã đào tạo được một đội ngũ làm công tác đối ngoại cho Đảng, Nhà nước. Chất lượng đào tạo luôn được khẳng định thông qua những thành quả đối ngoại trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như thời kỳ xây dựng đất nước.
Mỗi khi có hoạt động lớn về đối ngoại, HV lại được Nhà nước giao cho trọng trách bồi dưỡng tất cả các cán bộ để phục vụ cho các hoạt động này, ví dụ như Hội nghị cấp cao ASEAN, ASEM, APEC… HV cũng là nơi duy nhất tổ chức đối thoại thường niên với các viện nghiên cứu ở khu vực và trên thế giới về quan hệ song phương, đa phương, tình hình khu vực, thế giới, chính sách đối ngoại…
Mới đây HV được nâng cấp thành Học viện Ngoại giao để tăng cường mạnh mẽ hơn công tác nghiên cứu dự báo chiến lược. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có nghiên cứu bài bản về quan hệ quốc tế, dự báo tình hình sâu hơn và dài hơi thay vì nghiên cứu phục vụ cho một hoạt động cụ thể như trước đây.
Từ lý thuyết tới thực tiễn là một khoảng cách rất xa vời. Nhiều nhà tuyển dụng hiện nay than phiền rằng chất lượng sinh viên (SV) ra trường quá kém, không đáp ứng được mặt bằng chung về chuyên môn nghiệp vụ. Điều này có phải là vấn đề đối với HV? Từng là SV học phiên dịch khóa 2 của HVNG, sau khi tốt nghiệp, ông Dương Văn Quảng tiếp tục học lấy bằng cử nhân Văn học Pháp và Tiến sĩ Báo chí tại Pháp. Ông Quảng từng làm Tham tán Công sứ ở Paris từ năm 1992-1995, rồi Đại sứ Việt Nam tại Singapore từ năm 2003-2007. Ông làm Phó Giám đốc HV từ năm 1995-2003 và Giám đốc từ năm 2007.
Đến nay, các cơ quan làm đối ngoại sử dụng SV của HV rất ít phàn nàn. Nếu có thì chỉ là do sự bỡ ngỡ ban đầu của sinh viên và trên thực tế thì SV của HV cũng vượt qua những bỡ ngỡ này rất nhanh chóng.
Thường thì SV tốt nghiệp HV ngay khi ra trường có thể bắt tay vào làm việc vì quan trọng nhất là họ đã được cung cấp kỹ năng, được tiếp cận sớm với cách phân tích sự kiện nên họ có tư duy và tự tin vào bản thân mình trong công việc. Thêm vào đó, họ được trang bị ngoại ngữ như một công cụ để làm việc chứ không đơn thuần là mặt kiến thức như các trường ĐH khác. Ngoài ra, HV đã thực hiện việc đào tạo “mở” theo nghĩa từ những kiến thức được cung cấp cộng với cách “tư duy làm việc”, người học có thể từ đó phát triển theo các chuyên ngành khác nhau.
Có vẻ như ông khá hài lòng với SV của mình?
Không có một ông thầy nào hài lòng tuyệt đối về sản phẩm mình tạo ra. Tôi cũng vậy. Ông thầy cũng như nhà điêu khắc, làm ra sản phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có ý đồ, cảm hứng cộng với sở thích của người sử dụng. Mức độ hài lòng phụ thuộc 2 tiêu chí: có đáp ứng ý đồ mình tạo ra không và sản phẩm có người mua hay không.
Vậy trong thời gian tới, HV sẽ làm gì để nâng cao mức độ hài lòng về chất lượng các “sản phẩm” là SV ra trường?
Tôi đã hình dung tới một mô hình đào tạo gồm hai phần: Phần 1 là các kiến thức chung về đối ngoại, nhưng mang những đặc thù riêng của từng cơ sở đào tạo. Phần 2 là phần của người sử dụng lao động. Họ cần người có kiến thức chung và kiến thức chuyên môn như thế nào thì họ sẽ hợp tác chặt chẽ và có thể trực tiếp tiến hành đào tạo sinh viên. Có thể gọi quá trình này là hướng nghiệp.
Là người chèo lái con thuyền HV, ông nghĩ sao về tương lai của Học viện Ngoại giao?
Có 3 yếu tố quyết định tương lai của HV: Nhu cầu về đào tạo cán bộ đối ngoại; Nhu cầu về nghiên cứu chiến lược và Sự phù hợp với xu thế chung. Để làm tốt các nhiệm vụ này, HV phải củng cố về tất cả các mặt: tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, đặc biệt là chuẩn hoá đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy. Cái khó nhất của người làm việc tại HV là phải vừa là một nhà sư phạm, vừa là nhà nghiên cứu, vừa là nhà ngoại giao. Phải có kiến thức kinh viện, có bằng cấp, nhưng phải có thực tế công tác đối ngoại.
Người ta thường nói những ai không biết hài lòng với những gì đã đạt được thường rất khổ. Vậy trong số những gì đã làm được, điều gì làm ông hài lòng nhất?
Tôi hài lòng nhất là việc tất cả SV đều hài lòng vì đã chọn HV làm nơi học tập. Nếu so sánh SV trước kia và bây giờ, thì ngày xưa, những ai được cử đi học chắc chắn trở thành cán bộ ngoại giao. Còn nay, SV tự quyết định tương lai của mình và chưa chắc đã làm ngoại giao. Đó cũng là điều bất lợi nhưng cũng là điều thuận lợi vì được lựa chọn cũng là tự khẳng định nhiều hơn, năng động hơn, cá tính, nhanh quen việc hơn trong thời gian ngắn, tự tin hơn và tự chịu trách nhiệm hơn.
Xin cảm ơn ông!
Kim Chung (thực hiện)
| “Những ký ức không phai mờ” Cuốn sách “Những ký ức không phai mờ” là lời tri ân của các thầy cô và sinh viên khóa I gửi tới lãnh đạo Bộ, Học viện, các thầy cô và cán bộ công nhân viên Học viện từ những ngày tháng ban đầu đầy khó khăn, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Học viện Ngoại giao (1959-2009). Qua cuốn sách, người đọc còn cảm nhận được lòng tự hào của những người đã góp những viên gạch đầu tiên xây dựng nên Học viện Ngoại giao ngày nay cũng như những công sức mà họ đã cống hiến cho hoạt động đối ngoại của nước nhà. K.C |