![]() |
| Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển. |
Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong các nội dung quan trọng trong đường lối Đổi mới của Việt Nam, được khởi xướng từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986. Nội dung này bắt nguồn từ sự nắm bắt xu thế của thời đại và bài học từ lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, đó là phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Cách tiếp cận riêng
Tiệm tiến nhưng có những mũi đột phá. Bắt đầu từ chủ trương “Đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ. Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình hợp tác và phát triển”. Việt Nam phát triển sâu rộng quan hệ song phương với các nước và hội nhập khu vực, sau đó gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Việt Nam mở đầu tiến trình hội nhập sâu rộng từ năm 1995 với ba sự kiện lớn: Đàm phán Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ (BTA), gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á, tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN và làm đơn gia nhập WTO. Có thể nói đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Hoa Kỳ (BTA) là mũi đột phá quan trọng. Mặc dù BTA chưa phải là một hiệp định mậu dịch tự do (FTA) nhưng lại bao quát được các định chế của WTO do BTA ràng buộc những nội dung về thể chế kinh tế, mở cửa thị trường thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và bảo hộ tài sản trí tuệ. Đàm phán BTA là một cuộc đàm phán khó khăn, kéo dài 5 năm. Nhưng đây là bước tập dượt quan trọng để Việt Nam hội nhập khu vực và thế giới. Cũng trong năm 1995, Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN. Gia nhập ASEAN là một quyết định chính trị và trước hết là vì lợi ích chính trị. Từ sân chơi nhỏ, Việt Nam đàm phán gia nhập WTO để tham gia vào một sân chơi rộng lớn hơn. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO kéo dài hơn 11 năm. Trong tiến trình này, Việt Nam coi trọng tất cả các đối tác dù lớn hay nhỏ nhưng luôn biết chọn đối tác tạo ra bước đột phá, gây hiệu ứng lan tỏa rộng. Trong những đối tác có quan hệ thương mại lớn với Việt Nam và là các đối tác có yêu cầu cao trong đàm phán, gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Việt Nam đã chọn Liên minh châu Âu làm khâu đột phá để kết thúc đàm phán. Tháng 10/2004, hai bên kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO. EU trở thành một trong những đối tác lớn kết thúc sớm nhất đàm phán với Việt Nam. Sau khi kết thúc đàm phán với Liên minh châu Âu, một loạt đối tác khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand, Trung Quốc cũng kết thúc đàm phán với Việt Nam.
Gắn hội nhập với cải cách trong nước. Chủ động cải cách tạo tiền đề cho hội nhập, đồng thời lấy hội nhập với bên ngoài để thúc đẩy cải cách trong nước. Theo đó, Việt Nam đã tiến hành cải cách thể chế kinh tế theo cơ chế thị trường. Các cải cách quan trọng theo hướng này là xoá bỏ bao cấp, tự do hoá giá cả hầu hết các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ; ban hành Luật doanh nghiệp, nhằm phát triển mạnh mẽ khu vực tư nhân, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Từ chỗ kinh tế nhà nước và hợp tác xã gần như thống lĩnh nền kinh tế quốc dân, khu vực tư nhân hết sức nhỏ bé, đến cuối năm 2011 khu vực này (bao gồm doanh nghiệp FDI) đã chiếm 96 % tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 73,83% doanh thu thuần sản xuất kinh doanh, 67% tổng đầu tư toàn xã hội, làm ra 67,32% GDP.
Mặt khác, Việt Nam đã lấy chuẩn mực của WTO, của hội nhập để thúc đẩy cải cách và sửa đổi hệ thống luật pháp trong nước, thực hiện công khai minh bạch các cơ chế chính sách, tạo điều kiện cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp có cơ hội đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật. Để gia nhập WTO, Việt Nam đã sửa đổi, ban hành mới 25 luật, trong đó có những luật quan trọng, có tác động lớn đến việc cải thiện môi trường kinh doanh, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp như Luật thương mại, Luật đầu tư, Luật cạnh tranh, Luật doanh nghiệp….
Lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, thực hiện đổi mới chính trị với lộ trình phù hợp và đồng bộ với đổi mới kinh tế. Cách tiếp cận này bảo đảm cho Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định - một lợi thế lớn của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư và kinh doanh, đồng thời bảo đảm sự tương thích, mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị và các nội dung đổi mới khác. Qua đó, các lĩnh vực đổi mới hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau, tạo tiền đề cho tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Tham gia các hiệp định mậu dịch tự do khu vực và gia nhập WTO là những dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Dấu mốc này mở ra những cơ hội lớn nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi phải thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Vì vậy, ngay sau khi gia nhập WTO, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết về “một số chủ trương chính sách lớn để Việt Nam tận dụng tốt cơ hội, vượt qua thách thức khi là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”. Đây cũng là cách tiếp cận mang “phương cách Việt Nam”. Nghị quyết đã chỉ ra những cơ hội lớn và những thách thức lớn mà Việt Nam sẽ gặp phải khi hội nhập quốc tế sâu rộng; đề ra chương trình hành động để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Như đã lường định trước, sau khi gia nhập WTO, dòng vốn FDI tăng mạnh. Xu thế này đã xuất hiện từ năm 2006, khi Việt Nam đã điều chỉnh nhiều văn bản pháp luật theo chuẩn mực của WTO và khi các nhà đầu tư nước ngoài nhận biết khả năng Việt Nam sớm gia nhập tổ chức này. Trong năm đó, vốn FDI đăng ký là 12 tỷ USD, gần gấp đôi năm 2005, đến năm 2007 tăng lên 21 tỷ 350 USD và năm 2008 đạt mức kỷ lục - trên 71,7 tỷ USD. Đến năm 2012 vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm 24% tổng đầu tư toàn xã hội, khu vực FDI tạo ra 46,3% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, 63,1% tổng giá trị xuất khẩu.
Đương nhiên rất khó đánh giá chính xác tác động của hội nhập đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, vì hội nhập chỉ tạo ra cơ hội, còn việc có tận dụng được cơ hội hay không phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan của Việt Nam. Hơn nữa, đầu năm 2007, Việt Nam gia nhập thì năm 2008, thế giới xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đến nay vẫn chưa phục hồi được đà tăng trưởng; kinh tế thế giới vẫn còn nhiều bất định. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng bị tác động, tăng trưởng chậm lại so với giai đoạn trước. Tuy nhiên mức sụt giảm của Việt Nam thấp hơn mức giảm chung của kinh tế toàn cầu và là nước có tốc độ tăng trưởng cao so với mức trung bình của ASEAN-5 (gồm Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines). Nếu như trong giai đoạn 2007 - 2011 kinh tế toàn cầu giảm bình quân 33% so với giai đoạn 2002 - 2006 thì mức giảm của Việt Nam chỉ là 17%. Tốc độ tăng trưởng bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2011 là 5,93% trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của ASEAN-5 là 4,38%; xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao với mức tăng bình quân là 17,7%. Việt Nam cũng đạt được kết quả giảm nghèo ấn tượng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Vào năm 2010, Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp và bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình (thấp) và là nước đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hiệp quốc đặt ra vào năm 2015.
Cần những chiến lược đồng bộ
Mặc dầu vậy, cần thẳng thắn thừa nhận rằng Việt Nam chưa tận dụng tốt các cơ hội mà hội nhập mang lại để có thể vượt qua các thách thức mà hội nhập đặt ra. Tăng trưởng của Việt Nam vẫn đạt dưới mức tiềm năng.
Nguyên nhân là cải cách thiếu đồng bộ; sau khi gia nhập WTO, cải cách có phần chậm lại, trước khó khăn tạm thời, phản ứng chính sách thường quay lại tư duy cũ, can thiệp hành chính vào các quá trình kinh tế.
Giai đoạn mới của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam đang đàm phán 6 Hiệp định mậu dịch tự do mới: TPP, FTA Việt Nam - EU, FTA Việt Nam - Liên minh thuế quan Nga, Kazakhstan, Belarus, FTA Việt Nam - Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA), FTA Việt Nam - Hàn Quốc, Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN+6 (RCEP). Đây đều là những hiệp định có mức độ tự do hoá cao hơn các hiệp định trước đây mà Việt Nam đã tham gia, trong đó TPP và FTA Việt Nam - EU được coi là những hiệp định mậu dịch tự do thế hệ mới.
Tham gia các Hiệp định này sẽ là sức ép lớn, đặt ra những thách thức nặng nề đối với Việt Nam. Nhưng thách thức sẽ là cơ hội để Việt Nam thúc đẩy cải cách. Quyết tâm chính trị để đẩy mạnh cải cách đã thể hiện trong Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và trên tổng thể, nội dung cải cách đã được nêu rõ trong Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Vấn đề còn lại là Việt Nam cần hoạch định một chiến lược cải cách đồng bộ, có lộ trình cụ thể, gắn với một chiến lược hội nhập với tầm nhìn dài hạn, và một cơ chế điều phối thực thi hiệu quả để có được “một chuỗi giá trị cao về thể chế”, tạo ra một tổng hợp động lực để có thể hội nhập thành công trong một nền kinh tế toàn cầu hoá và cạnh tranh gay gắt.
Bài phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại đa phương của Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển
