![]() |
| Bên cạnh những lợi ích từ gói cam kết Bali, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức. |
Gói cam kết “lịch sử”
Thỏa thuận đạt được tại Bali (Indonesia) ngày 7/12/2013 được miêu tả là “lịch sử” khi lần đầu tiên sau gần 20 năm thành lập, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đạt được một thỏa thuận đa phương.
Ngoài ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự trở lại của WTO trong vai trò kiến tạo hệ thống pháp luật thương mại toàn cầu, gói cam kết Bali còn mang ý nghĩa đặc biệt khi lần đầu tiên, WTO đã có một cơ chế giám sát các ưu đãi và đối xử đặc biệt cho các nước đang phát triển và chậm phát triển (LDCs). Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp và tổng thể nền kinh tế toàn cầu đang rất cần một cú hích cho sự phục hồi bền vững hơn sau giai đoạn khủng hoảng.
Gói cam kết Bali được xác định bao gồm ba cấu thành chính: Hiệp định thuận lợi hóa thương mại (TF); Gói cam kết nông nghiệp và Gói cam kết phát triển với nhiều chính sách ưu đãi trong nông nghiệp, ưu đãi các nước LDCs trong cạnh tranh xuất khẩu thông qua quy định hẹp về mở cửa thị trường hàng nông sản cho các nước phát triển và gỡ bỏ các hạn ngạch thuế quan, hải quan…
Theo ước tính của Viện Kinh tế quốc tế Peterson (Mỹ), gói cam kết Bali sẽ đóng góp cho thế giới 1.000 tỷ USD, tạo việc làm cho 20-30 triệu người, trong đó khoảng 18 triệu người từ các nước đang và kém phát triển.
Việt Nam được hưởng lợi
Nhận định về cơ hội của Việt Nam khi gói cam kết Bali được đi vào triển khai, tại cuộc Hội thảo “Gói cam kết Bali, cơ hội và thách thức với Việt Nam” được tổ chức mới đây, ông Trần Bá Cường- hàm Trưởng phòng WTO, Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết, Hiệp định thuận lợi hóa thương mại (TF) sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục hải quan bằng cách cắt giảm chi phí, tăng tốc độ và hiệu quả thông quan.
Thực thi hiệu quả Hiệp định sẽ tạo điều kiện để Việt Nam xây dựng một hệ thống hải quan hiệu quả, giúp giảm chi phí cho các doanh nghiệp và nâng cao tốc độ trao đổi thương mại giữa Việt Nam và thế giới. Đồng thời, Việt Nam cũng sẽ có cơ hội được tham gia xuất khẩu các sản phẩm nông sản trong hạn ngạch, điều mà những nước mới gia nhập luôn gặp khó khăn do các hạn ngạch này được phân bổ trước khi Việt Nam là thành viên WTO.
Khi đi vào triển khai gói cam kết Bali, Bộ trưởng WTO sẽ xây dựng cơ chế mở có lộ trình dành cho các nước LDCs và cơ chế hẹp đối với các nước phát triển nhằm đảm bảo đối xứng trong thương mại cũng như hỗ trợ các quốc gia LDCs phát triển hơn. Với lợi thế về nông sản, Việt Nam lại là nước đang phát triển nên khi gói Bali đi vào hiện thực, việc xuất khẩu sẽ thông thoáng hơn và ít gặp trở ngại.
Không ít thách thức
Theo ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng, Vụ Chính sách thương mại đa biên, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam sẽ đối diện với không ít thách thức. “Nếu trong trường hợp chúng ta cũng có mặt hàng cạnh tranh với các nước kém phát triển khi xuất khẩu vào các thị trường lớn thì chúng ta sẽ chịu thiệt thòi hơn vì họ không phải chịu thuế, hạn ngạch”, ông Khanh dẫn chứng.
Bà Phạm Thị Hồng Hạnh, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng cho rằng còn quá sớm để đưa ra những dự báo về tác động hưởng lợi từ Gói nông nghiệp trong cam kết Bali đối với Việt Nam.
Bà Hạnh nhận định, dù kỳ vọng gói cam kết nông nghiệp sẽ hỗ trợ cải thiện hơn nữa khả năng tiếp cận thị trường của các nông sản xuất khẩu nhưng trong quá trình tham gia Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn thách thức, trong đó nổi bật nhất là vấn đề rào cản kỹ thuật. “Với nông sản, thuế không phải là vấn đề quá lớn, mà đó là tiêu chuẩn kỹ thuật nhất là đối với một nước công nghệ còn lạc hậu như Việt Nam”, bà Hạnh khẳng định.
Phạm Cúc
