![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2026. (Ảnh: Bảo Chi) |
| More from WVR |
Có thể nói rằng, Việt Nam đang dần trở thành hình mẫu của việc biến "kẻ thù" thành "bạn bè". Ngày nay, nước ta không chỉ là một phần của thế giới đang biến chuyển không ngừng, mà còn là nhân tố tích cực góp phần định hình tương lai bằng tinh thần quả cảm, trách nhiệm vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy hòa bình và ổn định toàn cầu.
Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra rằng, tại sao Việt Nam, một đất nước từng chịu tổn thương và đau khổ tột cùng bởi chiến tranh, nghèo đói, bao vây cấm vận, không những không sụp đổ mà còn có thể vững vàng vươn lên đầy tự hào và kiêu hãnh, trở thành biểu tượng của sự bao dung, cởi mở, thủy chung và đoàn kết trong một thế giới có bối cảnh địa chính trị đầy phức tạp, bất ổn và nghi kỵ? Bí mật của Việt Nam nằm ở đâu?
Nhìn lại lịch sử quan hệ quốc tế, ít có dân tộc nào phải trải qua nhiều hy sinh và mất mát do chiến tranh, chia cắt như dân tộc Việt Nam. Hơn ai hết, người Việt Nam chúng ta trân trọng, nâng niu từng giây phút bình yên cũng như những giá trị của hòa bình, hợp tác, đoàn kết và phát triển. Đồng thời, chúng ta cũng thấu hiểu rằng, một đất nước muốn vươn lên mạnh mẽ, có cơ đồ và tương lai tươi sáng, mang lại ấm no và hạnh phúc cho nhân dân thì trước hết phải có ổn định chính trị, kinh tế phát triển và duy trì được sự cân bằng trong các mối quan hệ quốc tế.
Chính vì thế, trong suốt 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Việt Nam đã kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nhất quán, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa với tầm nhìn chiến lược. Việc vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng nghệ thuật “ngũ tri” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến) đã giúp đối ngoại Việt Nam luôn vững vàng, chủ động, sáng tạo, nhạy bén trong việc vừa kiên định nguyên tắc bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia, vừa xử lý đúng đắn những mối quan hệ quốc tế tế nhị, phức tạp để phụng sự đất nước.
Nhân dân Việt Nam đã nỗ lực không ngừng nghỉ, nén lại đau thương để có thể “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng đến tương lai”, biến thù thành bạn, chuyển đối đầu thành đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đưa đối thủ thành đối tác. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần để Việt Nam vượt qua quá khứ, tranh thủ sự ủng hộ của cả đối thủ lẫn bạn bè.
Quan điểm chủ đạo trong việc thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam chính là “lòng tin, sự chân thành và đoàn kết”, bởi “lòng tin xóa đi hận thù và sự khác biệt; lòng tin là điều kiện tiên quyết bảo đảm mọi quan hệ hợp tác bền chặt, hiệu quả và thực chất”. Đồng thời, sự chân thành giúp các bên tăng cường chia sẻ, cảm thông, củng cố hy vọng và niềm tin. Bên cạnh đó, “sự đoàn kết trong nước tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn dân”, còn “sự đoàn kết quốc tế, đề cao chủ nghĩa đa phương sẽ tạo ra sức mạnh toàn cầu”.
Suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, những quan điểm ấy đã được kiểm chứng bằng năm minh chứng cụ thể sau:
Kiên định đường lối đối ngoại hòa bình, lấy đối thoại làm lựa chọn ưu tiên
![]() |
| Đối thoại, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế là những nguyên tắc xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Việt Nam. |
| More from WVR |
Việt Nam luôn theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đồng thời kiên trì thực hiện chính sách quốc phòng "4 không": không tham gia liên minh quân sự; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không liên kết với nước này để chống nước kia; không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Ngay cả trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử, chỉ cần còn cơ hội tránh xung đột bằng biện pháp hòa bình, Việt Nam luôn ưu tiên đối thoại và đàm phán. Đơn cử như quyết định ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 là minh chứng tiêu biểu cho chủ trương nhất quán ấy, thể hiện khát vọng gìn giữ hòa bình, tranh thủ thời gian để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh.
Xây dựng lòng tin chiến lược, mở rộng quan hệ đối tác vì hòa bình và phát triển
Việt Nam luôn coi việc xây dựng "lòng tin chiến lược" là nền tảng để phát triển quan hệ, thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia. Điều ấy được thể hiện trước hết qua việc không ngừng củng cố quan hệ hữu nghị với ba nước láng giềng có chung đường biên giới là Lào, Campuchia và Trung Quốc.
Đây đều là những mối quan hệ đã trải qua nhiều thử thách của lịch sử, được vun đắp bằng truyền thống đoàn kết, giúp đỡ và ủng hộ lẫn nhau qua từng giai đoạn phát triển, đồng thời giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh và sự phát triển của cả Việt Nam, Lào, Campuchia cũng như Trung Quốc.
Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn coi trọng việc gìn giữ mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện với Lào, đồng thời duy trì quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài với Campuchia. Đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Đối với Trung Quốc, Việt Nam chủ trương duy trì quan hệ chặt chẽ trên cả lĩnh vực chính trị và kinh tế, đồng thời xử lý các bất đồng, trong đó có vấn đề Biển Đông, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, tránh để xảy ra xung đột. Phát triển quan hệ với Trung Quốc là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược và là một trong những ưu tiên quan trọng trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa cùng chính sách quốc phòng "4 không" của Việt Nam.
Năm 2023, hai nước đã ra Tuyên bố chung về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, qua đó mở rộng hợp tác về kinh tế, thương mại và kết nối khu vực biên giới.
| More from WVR |
Bên cạnh đó, quan hệ Việt Nam-Mỹ cũng là minh chứng sinh động cho chủ trương "gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng đến tương lai", biến đối đầu thành đối thoại, biến cựu thù thành đối tác. Dấu mốc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 đã phản ánh rõ tinh thần đó.
Ngay cả trước khi bình thường hóa quan hệ, Việt Nam đã chủ động thúc đẩy hợp tác thông qua các hoạt động nhân đạo như tìm kiếm hài cốt và quân nhân Mỹ mất tích, góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn tại sau chiến tranh. Cách tiếp cận chân thành, đặt lợi ích nhân đạo lên trên khác biệt đã tạo tiền đề cho việc Mỹ dỡ bỏ cấm vận, hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, sau đó tiếp tục mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực.
Quan hệ thương mại Việt Nam-Mỹ cũng đã tăng trưởng mạnh mẽ gần 300 lần, từ khoảng 450 triệu USD năm 1995 lên khoảng 155 tỷ USD vào năm 2025. Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam đã trở thành một trong những đối tác thương mại quan trọng của Mỹ. Sau khi ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA) năm 2000, hai nước liên tục mở rộng hợp tác về quốc phòng, năng lượng, khoa học - công nghệ, nhân quyền cùng nhiều lĩnh vực khác trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau.
Song song với đó, Việt Nam tích cực thiết lập và nâng cấp các khuôn khổ quan hệ với nhiều đối tác quan trọng. Đến nay, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 14 nước, gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Vương quốc Anh; cùng nhiều Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện khác.
Những kết quả ấy không chỉ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam tại khu vực châu Á - Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mà còn củng cố niềm tin với các đối tác, thể hiện khả năng cân bằng quan hệ với các cường quốc một cách linh hoạt, hiệu quả. Nhờ vậy, Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế địa chính trị, thu hút đầu tư, công nghệ, đồng thời được nhiều quốc gia đánh giá là một trụ cột ổn định ở Đông Nam Á.
Hội nhập kinh tế sâu rộng, tạo động lực cho tăng trưởng và nâng tầm vị thế quốc gia
Thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng đã giúp Việt Nam vươn lên trở thành một trong 20 nền kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, đồng thời nằm trong nhóm các quốc gia có quy mô thương mại và khả năng thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có độ mở cao, với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã được ký kết, đồng thời duy trì quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ.
| More from WVR |
Một trong những yếu tố quan trọng thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới lựa chọn Việt Nam là quyết tâm tiếp tục cải cách, hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính, sẵn sàng tuân thủ các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, tinh thần "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" mà Việt Nam theo đuổi trong quan hệ với cộng đồng doanh nghiệp cũng góp phần củng cố niềm tin của các nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ lớn cũng đang trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam tạo đột phá trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, thiết kế chip, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI). Đây cũng là nền tảng để Việt Nam triển khai các dự án về đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính và trung tâm công nghệ 4.0, tạo bước chuẩn bị cho kỷ nguyên mới của của dân tộc.
![]() |
| Các nhà lãnh đạo và đại biểu tham dự Diễn đàn tương lai ASEAN 2026 chụp ảnh lưu niệm tại Hà Nội, gửi đi thông điệp mạnh mẽ về một ASEAN hòa bình, thịnh vượng, lấy người dân làm trung tâm và chủ động đóng góp vào các vấn đề toàn cầu. (Ảnh: Quang Hòa) |
Chủ động tham gia các thể chế đa phương, nâng cao vai trò và uy tín quốc tế
Việc Việt Nam chủ động tham gia các tổ chức và cơ chế đa phương không đơn thuần được thể hiện qua số lượng diễn đàn mà còn phản ánh cả một quá trình phát triển, từ học hỏi để hội nhập đến chủ động đóng góp, tham gia dẫn dắt, xây dựng lòng tin và từng bước nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
Bên cạnh việc tích cực tham gia các cơ chế đa phương như Liên hợp quốc (LHQ), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), G7 mở rộng, G20 mở rộng hay Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), vào tháng 6/2025, Việt Nam trở thành nước đối tác của Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS). Đây là bước đi thể hiện mong muốn đóng góp nhiều hơn vào việc nâng cao tiếng nói của các nước đang phát triển, thúc đẩy đoàn kết quốc tế, tăng cường chủ nghĩa đa phương bao trùm và toàn diện trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.
| More from WVR |
Đồng thời, Việt Nam không chỉ tham gia mà còn đảm nhiệm nhiều trọng trách tại các diễn đàn quốc tế. Hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ trong các nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021, Việt Nam đã để lại dấu ấn thông qua nhiều sáng kiến, đóng góp vào các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, chống khủng bố và hỗ trợ phát triển.
Năm 2020, trên cương vị Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã tổ chức thành công các hội nghị trực tuyến trong bối cảnh đại dịch COVID-19, đồng thời đưa ra nhiều sáng kiến nhằm duy trì kết nối và thúc đẩy hợp tác trong toàn khối. Giai đoạn 2024-2025, Việt Nam tiếp tục đóng vai trò tích cực trong việc dẫn dắt các sáng kiến của ASEAN về kinh tế số và ứng phó với biến đổi khí hậu, qua đó góp phần củng cố vai trò của ASEAN cũng như vị thế của Việt Nam trong khu vực.
Những đóng góp đó thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự chân thành và đoàn kết của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế. Đồng thời, chúng cũng khẳng định hình ảnh một quốc gia tích cực, có trách nhiệm, luôn sẵn sàng đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu, qua đó tiếp tục nâng cao uy tín và vị thế quốc tế.
Sức mạnh mềm Việt Nam: Văn hóa, con người và lòng tin
![]() |
| Lễ diễu binh, diễu hành A50 tạo dấu ấn với khí thế hào hùng, thể hiện tinh thần đoàn kết và niềm tự hào dân tộc. |
Một trong những yếu tố quan trọng khác giúp Việt Nam tạo dấu ấn với bạn bè quốc tế chính là sức mạnh mềm được hình thành từ bề dày lịch sử, sự giao thoa văn hóa cùng những giá trị nhân văn trong lối sống nghĩa tình, trọng đạo lý, hiếu khách, cởi mở, chân thành, thủy chung và đoàn kết của con người Việt Nam.
Hình ảnh các chiến sĩ mũ nồi xanh Việt Nam tận tụy hỗ trợ trẻ em, phụ nữ tại các quốc gia châu Phi xa xôi, những kỹ sư nông nghiệp miệt mài trên các cánh đồng ở Cuba hay phong trào ủng hộ, giúp đỡ Cuba trong giai đoạn khó khăn đã để lại nhiều ấn tượng, lay động trái tim của hàng triệu người trên thế giới.
Sức mạnh mềm của Việt Nam không chỉ đến từ các hoạt động đối ngoại của Nhà nước mà còn được bồi đắp từ chính cách ứng xử nhân văn của người dân trong nước và hơn sáu triệu người Việt Nam ở nước ngoài; từ cách chúng ta đón tiếp bạn bè quốc tế; từ kho tàng di sản văn hóa, nền ẩm thực phong phú; từ các hoạt động đối ngoại nhân dân, những tuần lễ văn hóa và chương trình biểu diễn được tổ chức tại nhiều quốc gia. Riêng trong năm 2025, các sự kiện lớn như A50, A80 và Đại lễ Vesak đã góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam, thu hút hàng triệu lượt theo dõi trên toàn thế giới.
| More from WVR |
Có thể nhận định rằng, văn hóa chính là cội nguồn tạo nên sức sống và sức hấp dẫn của Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng. Đó cũng là nền tảng giúp lan tỏa các giá trị Việt ra thế giới, đồng thời trở thành một trong những yếu tố làm nên sức mạnh và sức hút của đất nước.
Bí quyết tạo nên sức mạnh của Việt Nam chính là khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong tổng thể sức mạnh ấy, đối ngoại Việt Nam luôn gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, kinh tế và văn hóa để thực hiện nhiệm vụ phát triển đất nước, đồng thời góp phần nâng cao vị thế quốc gia. Thông qua những chiến lược linh hoạt, sáng tạo, ngoại giao Việt Nam đã góp phần giữ vững độc lập, tự chủ, không để đất nước rơi vào thế bị động hay phụ thuộc trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc.
Tựu trung, ngày nay, Việt Nam không chỉ là một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế mà còn là cầu nối quan trọng cho hòa bình và phát triển bền vững. Một trong những yếu tố làm nên thành công đó chính là niềm tin mà thế giới dành cho sự chân thành của Việt Nam. Niềm tin ấy sẽ tiếp tục được vun đắp trên những giá trị phổ quát của nhân loại cùng truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: đoàn kết, thủy chung và nhân nghĩa.
| Quyết tâm thực hiện 'lời hứa' của ngành Đối ngoại trước Đại hội XIV của Đảng Chia sẻ với Báo TG&VN ngay bên lề Đại hội XIV của Đảng, Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi dự ... |
| Tổng Bí thư Tô Lâm: Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế theo hướng chuyển từ 'tiếp nhận' sang 'đóng góp' Chiều 23/1, tại buổi họp báo quốc tế ngay sau phiên bế mạc Đại hội XIV, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ... |
| Thông báo về kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Sáng 27/1, tại Hà Nội, được sự ủy quyền của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính ... |
| Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung: 'Trọng yếu, thường xuyên' vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn đối với ngành đối ngoại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV lần đầu tiên xác định đối ngoại là lĩnh vực 'trọng yếu, thường xuyên'. Nhân dịp này, ... |
| Đối ngoại Việt Nam - Vươn xa như 'vó ngựa Thánh Gióng' Sứ mệnh đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu và trách nhiệm cao hơn đối với toàn Ngành. Các Đại ... |



