![]() |
| Trụ sở Bộ Tài chính. (Nguồn: VGP) |
Thông tin cho các phóng viên và trả lời câu hỏi liên quan tình hình kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho rằng, mục tiêu đã rất rõ ràng, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã quyết nghị điều hành giá đảm bảo mục tiêu Quốc hội cho phép trong năm 2026. Về các giải pháp, đầu tiên phải đảm bảo nguồn cung các mặt hàng chiến lược, không thiếu xăng dầu, không thiếu điện cho nền kinh tế. Về chính sách tài khóa, chúng ta có chính sách ưu đãi về thuế từ nay đến hết năm.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra giám sát đối với việc thực thi pháp luật về giá theo quy định, từ đó tránh được những hiện tượng đầu cơ, lợi dụng tình hình để trục lợi. Đối với mặt hàng nhà nước định giá, Chính phủ đã có yêu cầu cân nhắc kỹ các phương án điều chỉnh giá điện, y tế và giáo dục, nhằm hạn chế tác động cộng hưởng lên CPI, bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu. Với những giải pháp đó, chúng ta sẽ đạt mục tiêu bảo đảm CPI năm 2026 theo đúng chỉ tiêu Quốc hội cho phép.
Tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Tài chính đánh giá cao sự phối hợp trong chia sẻ thông tin của các đơn vị thuộc Bộ Tài chính và các cơ quan thông tấn, báo chí. Thứ trưởng cũng bày tỏ mong muốn tiếp tục nhận được sự phối hợp, đồng hành của các cơ quan thông tấn, báo chí trong thời gian tới để thúc đẩy công tác truyền thông chính sách tài chính, nhằm phục vụ tốt hơn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong năm 2026.
Tỷ lệ hồ sơ đề nghị hoàn được tiếp nhận bằng phương thức điện tử đạt 99%
Thông tin về một số nội dung thuộc lĩnh vực quản lý thuế, Phó Cục trưởng Cục Thuế Lê Long cho biết, thời gian qua, Cục Thuế thực hiện nhiều nhiệm vụ trọng tâm như: tiếp tục triển khai quyết liệt Chiến dịch “Làm sạch MST - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”; tăng cường quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và phòng, chống gian lận về thuế, hóa đơn; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về thuế…
| More from WVR |
Chia sẻ rõ hơn về công tác hoàn thuế GTGT, Phó Cục trưởng Lê Long cho biết, thời gian qua, Bộ Tài chính đã tập trung hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy trình nghiệp vụ và chỉ đạo cơ quan thuế đổi mới phương thức quản lý hoàn thuế theo hướng giải quyết nhanh, đúng quy định đối với người nộp thuế (NNT) tuân thủ tốt; đồng thời tăng cường quản lý rủi ro, phòng, chống gian lận và bảo đảm an toàn tiền hoàn thuế của NSNN.
Cơ sở pháp lý về hoàn thuế tiếp tục được hoàn thiện tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn, tạo cơ sở phân nhóm NNT theo mức độ tuân thủ, áp dụng chế độ ưu tiên, hoàn thuế tự động trên cơ sở dữ liệu và quản lý rủi ro; từng bước chuyển từ đánh giá rủi ro đối với toàn bộ hồ sơ sang xác định phần số tiền đủ điều kiện hoàn và phần có rủi ro cần kiểm tra, xác minh. Công tác tổ chức thực hiện được tăng cường; tiến độ giải quyết hồ sơ được theo dõi thường xuyên, gắn với trách nhiệm người đứng đầu; các hồ sơ tồn đọng, kéo dài được tập trung rà soát, xử lý dứt điểm.
Đến nay, tỷ lệ hồ sơ đề nghị hoàn được tiếp nhận bằng phương thức điện tử đạt 99%, việc phân loại hồ sơ thực hiện tự động trên hệ thống 73% hồ sơ phân loại hoàn thuế trước, 87% hồ sơ được giải quyết trong 6 ngày làm việc. Cơ quan thuế đã ban hành gần 15.000 quyết định với tổng số tiền được hoàn 149.463 tỷ đồng, tăng 46% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 86,4% dự toán hoàn thuế năm 2026; trong đó hoàn thuế xuất khẩu 125.018 tỷ đồng, chiếm 84% tổng số tiền hoàn. Đây là con số tăng trưởng rất lớn nhờ nỗ lực hoàn thuế của cơ quan thuế và sự phối hợp của cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội.
Tuy nhiên, theo phản ánh của người nộp thuế vẫn còn tình trạng chậm, muộn tại một số địa phương trong việc kiểm tra xác minh đối với các hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT của DN xuất khẩu. Để bảo đảm hoàn đúng hạn, đúng đối tượng; kiểm soát đúng rủi ro dựa trên dữ liệu, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, Bộ Tài chính tiếp tục đổi mới công tác hoàn thuế, tập trung thực hiện các nhóm giải pháp, với mục tiêu rút ngắn thực chất thời gian hoàn thuế, kịp thời khơi thông dòng vốn cho sản xuất, kinh doanh; đồng thời kiểm soát chặt chẽ gian lận và bảo đảm an toàn tiền hoàn thuế của NSNN.
Cụ thể, Cục Thuế tiếp tục tập trung, nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện kiểm soát tiến độ giải quyết hoàn thuế GTGT với mục tiêu 100% hồ sơ hoàn thuế GTGT được tiếp nhận bằng phương thức điện tử; 100% hồ sơ được giải quyết đúng hạn, trừ hồ sơ có dấu hiệu gian lận, trốn thuế, vi phạm pháp luật.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách, đơn giản hóa thủ tục và đẩy nhanh hoàn thuế đối với NNT tuân thủ tốt. Đẩy mạnh số hóa, tự động hóa và quản lý rủi ro đến từng giao dịch, từng phần số tiền đề nghị hoàn. Nâng cao hiệu quả kiểm soát gian lận gắn với trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.
Chiến dịch làm sạch mã số thuế không đặt ra nghĩa vụ pháp lý mới
Ông Lê Long cũng cho biết, thời gian qua Cục Thuế triển khai quyết liệt Chiến dịch “Làm sạch MST - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”; tổ chức các cuộc họp để rà soát tiến độ, xử lý các khó khăn, vướng mắc; tập trung hoàn thiện quy trình xác minh NNT không hoạt động tại địa chỉ đăng ký và chuẩn hóa dữ liệu người đại diện, chủ sở hữu của NNT ở trạng thái 6;
Theo ông Lê Long, trong nhiều năm, số lượng DN đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và DN không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký tiếp tục tích tụ. Tại thời điểm tháng 6/2026, riêng hai nhóm này có khoảng 600.000 DN.
Nếu không xử lý, số liệu đăng ký sẽ không phản ánh đúng tình trạng hoạt động thực tế của DN. Hồ sơ tồn đọng ngày càng lớn, gây lãng phí nguồn lực xã hội và phát sinh rủi ro pháp lý đối với chính DN, người đại diện theo pháp luật. Đồng thời, thực tế cũng xuất hiện tình trạng lợi dụng pháp nhân không hoạt động thực chất, DN “ảo”, DN “ma” để mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế.
Vì vậy, Chiến dịch hướng đến hai yêu cầu song song. Một mặt là hỗ trợ, tháo gỡ nhanh đối với DN thực sự có nhu cầu tuân thủ, muốn hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động hoặc quay trở lại kinh doanh. Mặt khác, tăng cường sàng lọc rủi ro, ngăn chặn việc lợi dụng DN để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
“Điều cần khẳng định là Chiến dịch không đặt ra bất kỳ nghĩa vụ pháp lý mới nào đối với NNT. Các nghĩa vụ về kê khai, hóa đơn, thuế và các khoản phải nộp ngân sách khi DN chấm dứt hoặc khôi phục hoạt động đều là các nghĩa vụ đã được pháp luật quy định. Cơ quan thuế đang tập trung rà soát, hướng dẫn và tổ chức xử lý các hồ sơ tồn đọng để NNT thực hiện thuận lợi, nhanh chóng hơn”, Phó Cục trưởng Lê Long nhấn mạnh.
Đến hết tháng 8/2026, cơ quan thuế đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho gần 125.000 DN, chi nhánh và tổ chức, tăng khoảng 30% so với cuối năm 2025; trong đó có nhiều hồ sơ tồn từ năm 2025 trở về trước được tập trung xử lý trong Chiến dịch. Đồng thời, cơ quan thuế đã xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế cho hơn 52.000 trường hợp để tiếp tục thực hiện thủ tục giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Như vậy, cơ quan thuế, đã xử lý việc hoàn thành nghĩa vụ để đóng mã số thuế cho gần 180.000 DN, tổ chức.
Ở chiều ngược lại, hơn 4.000 DN, tổ chức đã được khôi phục mã số thuế để tiếp tục hoạt động. Kết quả này cho thấy Chiến dịch không chỉ tập trung xử lý các hồ sơ tồn đọng kéo dài mà còn góp phần tạo điều kiện để DN lựa chọn rõ ràng: hoàn tất thủ tục rời khỏi thị trường hoặc khôi phục hoạt động theo đúng quy định.
“Về phía ngành Thuế, chúng tôi cam kết bố trí nguồn lực hỗ trợ DN rời khỏi hoặc quay trở lại thị trường; hồ sơ đủ điều kiện phải được giải quyết đúng thời hạn, không đặt thêm thủ tục hoặc khoản thu ngoài quy định; đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ quan liên quan và kịp thời xử lý phản ánh có căn cứ về chậm trễ, gây phiền hà”, Phó Cục trưởng Cục Thuế Lê Long nói. Đồng thời ông Lê Long cũng cho rằng DN càng chủ động xử lý sớm thì chi phí và vướng mắc càng giảm, không nên tiếp tục “bỏ quên” MST và chờ đến khi phát sinh hệ quả mới xử lý.
Xây dựng hệ thống chính sách phát triển DNNVV đầy đủ, hoàn chỉnh hơn
Cũng tại họp báo, bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân đã giới thiệu về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo bà Trịnh Thị Hương, Sau gần 10 năm thực hiện, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hình thành hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, một số chính sách chưa phát huy đầy đủ hiệu quả; phương thức hỗ trợ còn phân tán, chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp; việc tiếp cận chính sách còn khó khăn và cơ chế đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ chưa rõ nét.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng về phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đổi mới công tác hoàn thiện pháp luật. Theo đó, yêu cầu phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới đã có nhiều thay đổi. Chính sách hỗ trợ không chỉ tập trung gia tăng số lượng doanh nghiệp, mà cần tập trung nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị và khả năng phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn hơn.
Xuất phát từ cơ sở chính trị, thực tiễn nêu trên, Chính phủ đề xuất xây dựng Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017. Việc đổi tên Luật không đơn thuần là thay đổi tên gọi, mà thể hiện nội hàm chính sách tại dự thảo Luật và sự thay đổi về tư duy chính sách từ “hỗ trợ doanh nghiệp” là chính sang “kiến tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển”. Đồng thời phản ánh đầy đủ hơn mục tiêu, định hướng của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân; xác định đúng vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế xã hội và tiệm cận với xu hướng quốc tế.
Các quy định tại dự thảo Luật hiện nay không chỉ dừng ở việc quy định các chính sách hỗ trợ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt cho DNNVV mà đã mở rộng sang việc xây dựng các cơ chế, chính sách mang tính kiến tạo nhằm nâng cao năng lực nội tại, năng lực cạnh tranh và tạo điều kiện để các DNNVV phát triển bền vững trong dài hạn, như: thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, mở rộng thị trường, doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh; phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp. Đây đều là những nội dung có tính chất phát triển, vượt ra ngoài phạm vi của các chính sách hỗ trợ theo nghĩa truyền thống.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật đã thể hiện rõ sự chuyển dịch từ tư duy Nhà nước trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp sang tư duy Nhà nước kiến tạo môi trường thuận lợi, phát triển hệ sinh thái hỗ trợ để doanh nghiệp chủ động phát triển. Các chính sách hỗ trợ được thiết kế với mục tiêu là thúc đẩy giúp DNNVV phát triển theo vòng đời, quy mô doanh nghiệp và hỗ trợ nâng cao các năng lực lõi của DNNVV.
Dự thảo Luật đã bổ sung các nguyên tắc để chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm theo nhu cầu và quá trình trưởng thành của doanh nghiệp; đồng thời đổi mới công tác tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ. Dự thảo Luật chuyển tư duy từ Nhà nước trực tiếp cung cấp hỗ trợ sang Nhà nước kiến tạo hệ sinh thái và dẫn dắt nguồn lực phát triển doanh nghiệp.
Về các chính sách hỗ trợ cụ thể, dự thảo Luật thiết kế 2 nhóm chính sách hỗ trợ phát triển, gồm: chính sách hỗ trợ chung và chính sách hỗ trợ trọng tâm cho một số nhóm DNNVV ưu tiên phát triển.
Theo bà Trịnh Thị Hương, nếu Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đặt nền móng cho hệ thống hỗ trợ DNNVV, thì dự án Luật lần này hướng tới xây dựng một hệ thống chính sách phát triển DNNVV đầy đủ, hoàn chỉnh hơn. Mục tiêu cuối cùng là chính sách phải đến đúng đối tượng có nhu cầu, đúng thời điểm doanh nghiệp cần và doanh nghiệp tiếp cận chính sách thuận lợi, dễ dàng hơn; qua đó nắm bắt cơ hội phát triển kinh doanh tốt hơn, hiệu quả hơn.
Đảm bảo kiểm soát lạm phát
Tại họp báo, đại diện các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Tài chính đã trả lời nhiều câu hỏi của các phóng viên về các nội dung liên quan đến lĩnh vực chính sách thuế, phát triển hạ tầng, quản lý đấu thầu, quản lý thuế. Liên quan đến câu hỏi về dư địa điều hành lạm phát trong những tháng cuối năm 2026 để đạt mục tiêu đề ra, bà Lê Tuyết Nhung, Phó Cục trưởng Cục Quản lý giá cho biết, sang quý III/2026, giá xăng dầu đã tăng cao trở lại và tác động lớn đến kinh tế trong nước, dẫn đến lạm phát tăng cao. Trước tình hình đó, Bộ Tài chính đã có văn bản đề nghị các bộ, ngành, địa phương tập trung theo dõi sát diễn biến cung cầu giá cả thị trường, nhất là các hàng hóa thiết yếu; chủ động dự báo và xây dựng các phương án giá để đảm bảo nguồn cung, điều hành giá phù hợp.
Các địa phương phải tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, để tránh tình trạng găm hàng, đầu cơ, đẩy giá bất hợp lý. Đối với các địa phương có mức tăng CPI cao hơn bình quân cả nước, Bộ Tài chính đề nghị phải phân tích rõ các cơ cấu hình thành giá, giải thích rõ nguyên nhân dẫn đến giá tăng cao, nhất là mặt hàng làm cho chỉ số CPI tăng cao để có biện pháp điều hành phù hợp.
Để kiểm soát giá cả các mặt hàng khác thì đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 43/2026/NQ-CP về việc kéo dài thời hạn áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng xăng, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay. Bộ Tài chính với vai trò là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo điều hành giá sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để theo dõi sát tình hình cung cầu và diễn biến giá cả để có động thái chính sách phù hợp, đảm bảo kiểm soát lạm phát theo đúng mục tiêu đề ra.
| Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi làm việc tại Busan và Ulsan Trong hai ngày 30/9 - 1/10, Đoàn công tác do Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi dẫn đầu đã làm việc với chính ... |
| Để thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho rằng, tháng 9 vừa qua, thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng ... |
| Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ ... |
