Nhỏ Bình thường Lớn

Chè Ba Vì: Thương hiệu nâng tầm vóc

Nếu như trước đây, Ba Vì nổi tiếng là vùng văn hóa xứ Đoài, là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt” được thiên nhiên ưu đãi với nhiều danh lam thắng cảnh như Ao Vua, Khoang Xanh, Thác Ngà, Hồ Suối Hai…, thì nay Ba Vì còn được biết đến thêm là… vùng chè của đất nước.

Có thể nói chè Ba Vì từ lâu đã được tiêu thụ mạnh trên thị trường Việt Nam, nhưng ẩn dưới rất nhiều tên gọi khác nhau. Nay, với việc Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) công nhận thương hiệu chè Ba Vì - “Ba Vì Tea” từ ngày 1/10/2010, chè Ba Vì đã chính thức có tên gọi riêng của mình.

Lợi thế và tiềm năng lớn

Ba Vì nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, diện tích khoảng 424 km2, với thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là phát triển ngành chè.

Thực vậy, Ba Vì ngút ngàn những đồi chè xanh với 1.660 ha trồng các giống chè trung du lá nhỏ, chè PH1, thậm chí một số chè nhập như Ô Long, Kim Tuyên mới được trồng cũng đã tỏ ra có nhiều ưu điểm khi phát triển trên vùng đất này. Theo lời ông Hà Xuân Hưng, Chủ tịch UBND Huyện Ba Vì, chè Ba Vì được chế biến hoàn toàn từ búp chè tươi thu hái tại các vườn đồi, nơi có vùng đất tơi xốp, dễ thoát nước và phân bố dưới độ cao 100m, độ PH – 4 – 5,5, tầng dày 70cm, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây chè. Giống chè được trồng nhiều là giống chè trung du lá nhỏ, chè Ô Long, Kim Tuyên chất lượng cao với các tiêu chuẩn khắt khe về nguồn nước, phân bón và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Năng suất thu hoạch chè bình quân đạt 9 tấn/ha, tổng sản lượng chè búp tươi là 15.700 tấn. Một số chè trung du lá nhỏ nếu thâm canh tốt còn đạt 10 tấn/ha, chè PH1 đạt 22 tấn/ha.

Hiện Ba Vì có tới 6 nhà máy chế biến chè như Nhà máy chè Đại Hưng, Thái Hà, Á Châu, Chính Nhân… và hàng trăm cơ sở nhỏ lẻ khác chế biến chè. Chè Ba Vì thành phẩm được chế biến trên dây chuyền công nghệ hiện đại, đảm bảo đậm hương và ngọt hậu, sản phẩm chính là chè xanh, chè đen, các loại chè ướp hương. Theo số liệu mới nhất, tổng sản lượng chè năm 2009 của Ba Vì là khoảng 3.000 tấn, trong đó lượng chè xuất khẩu chiếm từ 50–60% đi các nước Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Anh, Trung Đông, Pakistan, Afganistan, giá trị xuất khẩu ước đạt trên 5 triệu USD, mang lại thu nhập ổn định cho hơn 10.000 người lao động trong huyện, góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân, đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày càng lớn.

Danh có chính, ngôn mới thuận!

Tiềm năng lớn, nhưng việc tiêu thụ chè Ba Vì còn nhỏ lẻ là do chủ yếu cung cấp cho các cơ sở sản xuất khác để đóng mác tiêu thụ chứ chè Ba Vì khi đó chưa có một thương hiệu riêng cho mình. Vì vậy, việc thương hiệu Chè Ba Vì được công nhận vừa qua là thành quả đáng kể bước đầu của huyện trong phát triển ngành chè. Bà Đặng Thị Nguyệt, Chủ tịch Công ty CP chè Việt-Mông, một đơn vị đầu đàn của ngành chè Ba Vì cho biết, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng và quảng bá các sản phẩm thế mạnh đặc trưng truyền thống là yêu cầu cấp thiết.

Bằng việc “có danh”, người nông dân trồng chè tại Ba Vì sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong việc được hỗ trợ canh tác theo quy trình, đảm bảo cho chất lượng của chè. Dự kiến, đến cuối năm 2010, chè Ba Vì sẽ chính thức được phân phối trên thị trường với loại chè búp (chè xanh) ngon đặc biệt có giá từ 70.000–120.000 đồng/kg, chè đen (chè dành cho xuất khẩu) với mức giá từ 1,8 – 2 USD/kg mang thương hiệu là Chè Ba Vì (Bavi Tea). Và xa hơn, sản lượng mang thương hiệu chè Ba Vì dự tính vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 6.100 tấn chè búp khô. Theo ông Nguyễn Văn Hải - Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Vì, thương hiệu này sẽ do huyện quản lý và chỉ những doanh nghiệp bảo đảm được chất lượng sản phẩm chè đầu ra theo quy định thì mới được cấp phép sử dụng thương hiệu Chè Ba Vì.

Hy vọng rằng chè Ba Vì cùng với những sản phẩm khác mang thương hiệu Ba Vì như du lịch Ba Vì, sữa Ba Vì sẽ là những thương hiệu mang hình ảnh của núi Tản, sông Đà đến với từng người Việt và chinh phục những thị trường quốc tế khó tính khác.

Lan Hương