![]() |
| Toàn cảnh Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu, quản trị đến thị trường”. (Ảnh: Vân Chi) |
Đây là thông điệp chính được đưa ra tại Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu, quản trị đến thị trường” ngày 7/10 do Tạp chí Kinh doanh cùng Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác và Liên minh HTX Việt Nam tổ chức.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho biết, Diễn đàn diễn ra trong bối cảnh cả nước thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời đưa Nghị quyết Đại hội VII của Liên minh HTX Việt Nam vào thực tiễn. Theo bà Vân, khu vực HTX ở mức thấp so với thế giới về chuyển đổi số. HTX cần một lộ trình rõ ràng, thay vì tiếp cận công nghệ manh mún, thiếu kết nối với quản trị và thị trường.
Khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế hợp tác cho thấy, chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, đang ở giai đoạn bắt đầu. Thiết bị số ngày càng phổ biến nhưng ứng dụng công nghệ vào quản trị, sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường còn hạn chế.
Bà Vân cho rằng, điểm nghẽn của chuyển đổi số trong HTX hiện nay không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ. “Điểm nghẽn còn nằm ở dữ liệu, kỹ năng và phương thức quản trị. Quan trọng hơn là khả năng biến công nghệ thành giá trị kinh tế”, bà Vân nói.
![]() |
| Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho rằng, chuyển đổi số không nên bắt đầu bằng câu hỏi “mua công nghệ gì”, mà phải bắt đầu bằng câu hỏi “công nghệ giải quyết được vấn đề gì”. (Ảnh: Vân Chi) |
Đồng thời, theo bà Vân, chuyển đổi số không nên bắt đầu bằng câu hỏi “mua công nghệ gì”, mà phải bắt đầu bằng câu hỏi “công nghệ giải quyết được vấn đề gì”. Trong đó, dữ liệu về nguyên liệu, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường là nền tảng để HTX quản trị sản xuất, truy xuất nguồn gốc, minh bạch sản phẩm và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, nếu mua công nghệ ở đầu ra trong khi dữ liệu đầu vào chưa được chuẩn hóa thì HTX đang đầu tư “lệch thứ tự”. Nguyên tắc phù hợp với HTX hiện nay là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, ưu tiên những giải pháp có thể thuê, sử dụng ngay, cho phép xuất dữ liệu và có khả năng liên thông.
“Với HTX, dữ liệu không phải khái niệm xa vời. Đó là thông tin về thành viên, vùng nguyên liệu, mùa vụ, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường. Khi được chuẩn hóa, dữ liệu giúp HTX biết mình đang sản xuất gì, sản lượng bao nhiêu, chất lượng thế nào, chi phí ra sao và thị trường cần gì. Đây cũng là nền tảng để truy xuất nguồn gốc, minh bạch sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường”, ông Hạnh nói.
| More from WVR |
Đây cũng là vấn đề được ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ ra qua câu chuyện truy xuất nguồn gốc. Khoảng 35% HTX đã sử dụng mã QR, nhưng tính đến ngày 31/8/2026, trong 793.623 sản phẩm đăng ký trên hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, chỉ 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin để truy xuất, tương đương khoảng 20%. Điều đó cho thấy mã QR tự thân không tạo ra giá trị.
Theo ông Tuất, QR chỉ là “cửa sổ” để người tiêu dùng tra cứu; giá trị nằm ở dữ liệu thực phía sau, được ghi nhận và xác thực xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ. Khi dữ liệu vùng nguyên liệu, nhật ký sản xuất, sản lượng, chất lượng và lô hàng không đầy đủ, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng khó tạo ra một chuỗi truy xuất đáng tin cậy.
Ở góc độ quản trị, ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, cho rằng chuyển đổi số phải đi từ dữ liệu đến quản trị, từ quản trị đến hiệu quả rồi mới đi tới thị trường. HTX cần biết mình có bao nhiêu thành viên, chi phí từng sản phẩm, khách hàng ở đâu, thị trường cần gì và thành viên được hưởng lợi bao nhiêu. Khi dữ liệu trả lời được những câu hỏi đó, nó mới thực sự trở thành công cụ quản trị.
Tại Diễn đàn, các chuyên gia, nhà quản lý, hợp tác xã cùng doanh nghiệp cho rằng thay vì tiếp cận chuyển đổi số theo hướng đầu tư công nghệ đơn thuần, cần tập trung vào những bài toán cụ thể mà hợp tác xã đang phải giải quyết, như: Quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng, kết nối khách hàng và giảm chi phí vận hành.
Đặc biệt, gắn hỗ trợ chuyển đổi số với hiệu quả sau đầu tư, trong đó chú trọng những kết quả có thể đo lường, như: Giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng khách hàng, tăng giá trị hàng hóa và cải thiện năng lực quản trị.
| Tây Ninh: Chuyển đổi số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được ... |
| Cà Mau: 'Đi từng ngõ, gõ từng nhà', yêu cầu chuyển đổi số phải có sản phẩm, kết quả Cà Mau đẩy mạnh chuyển đổi số từ những việc người dân sử dụng hằng ngày như rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục ... |
| Thúc đẩy tiêu thụ nông sản đặc trưng vùng miền Việc sáp nhập 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn không chỉ là bước ngoặt về quản lý Nhà nước mà còn mở ra một ... |
| OCOP - Nâng tầm nông sản Thái Nguyên Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) được triển khai nhằm phát triển các sản phẩm đặc trưng của từng địa phương trên cơ ... |
| Hợp tác xã đang từng bước khẳng định vai trò trong hệ sinh thái kinh tế quốc gia Đến tháng 3/2026, Việt Nam có hơn 35.000 hợp tác xã với gần 7 triệu thành viên, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng ... |

