![]() |
| Các đại biểu tham dự Hội nghị Đối ngoại đa phương. |
Ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Cần đột phá thể chế hậu WTO
Các thành tựu sau khi gia nhập WTO của Việt Nam là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, sau giai đoạn hồ hởi ban đầu, Việt Nam hiện đang đối mặt với những trở ngại mới trong việc tận dụng các lợi thế mà WTO và các hiệp định thương mại khác đưa lại.
Trong giai đoạn 2007-2008, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng nhờ vào hai nguyên nhân. Một mặt, những cải cách thể chế, pháp luật toàn diện mà Việt Nam thực hiện theo các cam kết WTO là tác nhân quan trọng nhất của những chuyển biến ở Việt Nam. Mặt khác, sự hứng khởi của các nhà đầu tư cả trong nước lẫn nước ngoài cũng là yếu tố quan trọng đưa tới những chuyển biến này.
Tuy nhiên, sau đó sự hứng khởi đã lắng xuống, khi những cải cách thể chế mới dừng lại ở mức yêu cầu của WTO, mà chưa chú trọng sâu vào các nhu cầu nội địa. Công cuộc tái cấu trúc diễn ra rất chậm trễ, lại trùng vào giai đoạn kinh tế thế giới khó khăn, khủng hoảng.
Vì vậy, những lợi thế từ gia nhập WTO nói riêng và hội nhập nói chung đã không được phát huy đầy đủ. Có thể thấy rõ điều đó qua câu chuyện tăng trưởng, cơ cấu xuất nhập khẩu, nông nghiệp… Cơ hội tăng trưởng không đạt được như kỳ vọng, tăng trưởng GDP 5 năm 2007-2011 chỉ đạt 6,5%, dù vẫn là cao với thế giới nhưng rõ ràng là thấp hơn so với chính Việt Nam thời kỳ hội nhập hạn chế hơn trước đó, và thấp so với 7,8% của giai đoạn 2002-2006, thậm chí thấp so với 7% của giai đoạn 1996-2000.
Việt Nam cũng đối mặt tình trạng nông nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực, khi tăng trưởng bình quân ngành này trong giai đoạn 2007-2011 là 3,4%/năm, thấp hơn giai đoạn 5 năm trước 0,6 điểm phần trăm.
Cơ cấu xuất nhập khẩu có vấn đề và tăng trưởng đầu tư giảm, đóng góp vào GDP của đầu tư cũng giảm cũng là những vấn đề của Việt Nam hiện nay. Các doanh nghiệp dường như không tận dụng được cơ hội từ hội nhập để phát triển sản xuất kinh doanh và vì vậy việc mở rộng đầu tư, đầu tư mới của doanh nghiệp đã không đạt được tốc độ như trước đây.
Vấn đề đặt ra là làm sao doanh nghiệp Việt Nam tận dụng được lợi thế từ việc gia nhập WTO. Đây cũng chính là lý do mà ngay từ đầu năm 2014, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các chính sách nhằm đột phá thể chế trong đó mục tiêu là tập trung cải cách thủ tục hành chính, tái cơ cấu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nghị quyết 15 của Chính phủ ban hành tháng 3/2014, đặt mục tiêu phải hoàn thành cổ phần hóa 432 doanh nghiệp Nhà nước. Nghị quyết 19 của Chính phủ thì yêu cầu đến năm 2015, các bộ, ngành của Việt Nam phải cải thiện mạnh mẽ thủ tục hành chính đạt mức trung bình của các nước ASEAN 6.
Trong khi đó, các chương trình sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư trình ra Quốc hội cũng đặt yêu cầu phải cải thiện được thứ hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Như vậy, không phải các chính sách mới về thuế quan trong WTO mà cải cách thể chế chính là yếu tố tác động sâu sắc nhất đến sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp thời gian qua chưa tận dụng được hết cơ hội mà WTO đem lại, và giờ đây cải cách thể chế một lần nữa được khẳng định là điều quan trọng nhất để Doanh nghiệp tận dụng được những lợi thế của WTO, cũng như tiến tới những hiệp định quốc tế mới như TPP và các hiệp định FTA. Hy vọng, tình hình sẽ chuyển biến tích cực hơn, những nỗ lực cải cách theo các chuẩn mực quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội mở ra từ WTO và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Ông Trần Quốc Khánh - Thứ trưởng Bộ Công Thương, Trưởng Đoàn đàm phán Chính phủ: Không hội nhập chỉ vì hội nhập
Hội nhập kinh tế quốc tế với phạm vi và mức độ liên kết ngày càng sâu và đa dạng sẽ hỗ trợ tích cực cho tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam, giúp Việt Nam có được các lợi thế ở cả trong nước và bên ngoài, để thúc đẩy xuất khẩu và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong quá trình này cũng không hề đơn giản. Trước hết, các đối tác trong các FTA thế hệ mới không chỉ yêu cầu mức độ cam kết sâu hơn đối với những nội dung truyền thống như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước… Đây đều là các lĩnh vực mới và khó đối với Việt Nam. Bên cạnh đó, việc cùng lúc mở cửa thị trường cho nhiều đối tác chắc chắn sẽ gây sức ép to lớn về cạnh tranh cũng như sức ép về cải cách hệ thống pháp luật và thực thi cam kết.
Trước những cơ hội và thách thức đó, xin đề xuất một số giải pháp như sau:
Một là, để thành công trong hội nhập kinh tế đa tầng nấc, cần chuẩn bị một "cái gốc" thật chắc. Trước hết, cần có sự nhất quán cao độ về sự cần thiết của sự hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể, là không hội nhập vị hội nhập mà hội nhập để phục vụ mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, phân bổ lại nguồn lực theo hướng hiệu quả hơn và minh bạch hơn. Sau đó, giữa cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế có sự tác động qua lại nhưng cải cách kinh tế trong nước luôn phải là yếu tố quyết định và là nền tảng của hội nhập kinh tế quốc tế. Không nên dùng "bên ngoài" để ép "bên trong" vì dễ làm phát sinh tình trạng thực thi hình thức, thậm chí là phản ứng không thuận của xã hội, từ đó làm giảm hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế và nếu tích tụ lâu ngày sẽ làm xói mòn các nỗ lực cải cách kinh tế. Cuối cùng, cần tiếp tục đưa cải cách kinh tế đi vào chiều sâu, đặc biệt là thực hiện có hiệu quả các chương trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, hệ thống tài chính - ngân hàng, đầu tư công và nông nghiệp bởi cải cách thành công trong những lĩnh vực này sẽ giúp Việt Nam tiếp cận với các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế cao hơn.
Hai là, trong môi trường đa tầng nấc, cần có chiến lược rõ ràng và bước đi phù hợp trong việc lựa chọn đối tác cũng như cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế. Là nền kinh tế nhỏ, Việt Nam cần đặc biệt coi trọng vai trò của hệ thống thương mại đa phương WTO. Nói cách khác, có thể có các hướng ưu tiên theo từng giai đoạn nhưng các hướng ưu tiên này vẫn phải dựa trên các nguyên tắc lớn của hệ thống thương mại đa phương và hướng về mục tiêu cuối cùng là củng cố hệ thống này.
Ba là, cần có sự thay đổi về định hướng chính sách phát triển. Cho tới nay, để phục vụ mục tiêu phát triển, các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế đều cho phép dành đối xử đặc biệt và khác biệt cho những nước phát triển như Việt Nam. Việt Nam có thể tận dụng nhưng không nên lạm dụng sự đối xử đặc biệt và khác biệt đó. Việc có được một thời gian chuyển đổi dài để duy trì một biện pháp hỗ trợ thiếu hiệu quả nào đó sẽ không tốt bằng việc chủ động tái cơ cấu và thúc đẩy cạnh tranh. Môi trường cạnh tranh, đến lượt nó, sẽ thúc đẩy việc nâng cao năng suất, nâng cao trình độ công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, những thành tố hết sức quan trọng đối với phát triển bền vững trong dài hạn.
Bốn là, cần quan tâm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật theo hướng đầy đủ và đồng bộ, bảo đảm minh bạch và thuận lợi hóa môi trường kinh doanh.
Cuối cùng, lợi ích và chi phí của hội nhập kinh tế quốc tế thường được phân bổ không đồng đều, nhất là ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, cần có giải pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đối với những đối tượng bị tác động nhiều nhất và tạo cơ hội công bằng cho tất cả các đối tượng trong xã hội trong việc tiếp cận các thành quả của hội nhập kinh tế quốc tế. Chỉ có như vậy mới bảo đảm được đồng thuận xã hội, yếu tố quan trọng giúp hội nhập kinh tế quốc tế đa tầng nấc thành công.
An Sinh (ghi
