Hương Tết vùng cao Tây Bắc
Với người Thái, Mông ở miền núi phía Bắc, thịt gác bếp là món ăn không thể thiếu. Thịt trâu, bò hoặc lợn được tẩm muối, mắc khén, hạt dổi rồi treo trên gác bếp nhiều tháng. Khói củi làm thịt sẫm màu, săn chắc và thơm đặc trưng. Ngày Tết, thịt được hơ lại trên than, thái mỏng đãi khách, mang vị cay nồng, đậm đà, gợi ký ức về những mùa Đông quây quần bên bếp lửa và tập quán dự trữ thực phẩm của cư dân miền núi.
Cũng trong tiết trời giá lạnh ở Hà Giang, Lào Cai, người Mông có món thịt treo đông tự nhiên. Thịt được treo ngoài hiên khi nhiệt độ xuống gần 0 độ C, lớp mỡ đông cứng tạo thành “áo giáp” bảo quản tự nhiên. Khi chế biến, thịt giữ vị ngọt thanh riêng biệt. Bên cạnh đó là bánh dày làm từ nếp nương giã nhuyễn, tượng trưng cho Mặt Trăng và Mặt Trời, được dâng cúng tổ tiên cầu mùa màng thuận lợi. Tiếng chày giã bánh vang vọng núi rừng trở thành âm thanh đặc trưng của Tết vùng cao.
| Thịt gác bếp đặc trưng vùng cao Tây Bắc. (Nguồn: TTXVN) |
Vị ngọt lành của người Tày, Nùng, Cao Lan
Trong mâm cỗ Tết của người Tày, Nùng, Cao Lan, bánh khảo là món bánh tiêu biểu. Gạo nếp được phơi sương, rang vàng, xay mịn rồi trộn đường, lạc, vừng, ép khuôn. Bánh tan nhanh trong miệng, vị ngọt thanh, nhẹ nhàng. Ngoài ra còn có bánh phở khô làm từ bánh phở tươi phơi cứng, khi dùng chỉ cần nhúng nước cho mềm. Món ăn giản dị nhưng gửi gắm ước mong năm mới đủ đầy, ấm no.
|
Lễ Ramưwan của người Chăm
Với người Chăm theo đạo Bà Ni ở Ninh Thuận, năm mới gắn với lễ Ramưwan. Do tuân thủ giáo luật Hồi giáo, họ không dùng thịt lợn, mâm lễ chủ yếu có cà ri dê, cà ri gà nấu với nước cốt dừa, nghệ và thảo mộc; cơm nị vàng óng; bánh sakaya ngọt mềm. Ẩm thực Chăm đề cao sự thanh tịnh, cân bằng giữa vật chất và tinh thần, thể hiện rõ bản sắc văn hóa vùng đất nắng gió.
| Người Chăm và Tết Ramưwan. (Nguồn: TTXVN) |
Hương rừng Tây Nguyên
Với người Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, lễ Mừng lúa mới quan trọng hơn Tết Nguyên đán, song dịp đầu năm vẫn có mâm cỗ đặc trưng. Nổi bật là canh thụt nấu trong ống lồ ô với thịt gà, lá môn, măng rừng; khi mở ống, hương tre cháy quyện mùi măng tạo nên dấu ấn khó quên. Trung tâm mâm cỗ là chum rượu cần – biểu tượng của đoàn kết cộng đồng trong những ngôi nhà dài. Các món thịt nướng ống, cá suối hấp lá, xôi rẫy thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người và núi rừng.
| Tết mừng lúa mới - rượu cần, canh thụt và những món ăn “sống cùng rừng”. (Nguồn: TTXVN) |
Tết Chol Chnam Thmay của người Khmer
Tết Chol Chnam Thmay của người Khmer Nam Bộ diễn ra vào tháng 4 Dương lịch. Mâm cỗ nổi bật với bún nước lèo nấu từ mắm pro-hok, ăn cùng rau rừng, hoa chuối; bên cạnh là bột lọc xào chua ngọt, tung lò mò (xúc xích bò), cơm ống tre và các loại bánh gói lá chuối. Sự hòa quyện giữa vị chua, cay, béo tạo nên bản sắc riêng, phản ánh giao thoa văn hóa khu vực.
| Tết của người Khmer- chua ngọt hài hòa trong bữa ăn Chol Chnam Thmay. (Nguồn: TTXVN) |
Giá trị ẩn sau những món ăn “độc lạ”
Dù khác biệt về nguyên liệu và cách chế biến, các món Tết của đồng bào dân tộc thiểu số đều thể hiện sự thích nghi với môi trường. Thịt gác bếp phù hợp khí hậu lạnh vùng cao; món nấu ống tre tận dụng nguyên liệu rừng; kỹ thuật lên men ở Nam Bộ thích ứng với thời tiết nóng ẩm. Mỗi món ăn là kết tinh kinh nghiệm sống và trí tuệ bản địa.
Không chỉ là thực phẩm, nhiều món còn mang ý nghĩa tâm linh. Bánh dày tượng trưng cho trời đất; rượu cần gắn với nghi lễ cộng đồng; cà ri trong lễ Ramưwan là phần quan trọng của nghi thức tôn giáo. Qua đó, ẩm thực trở thành sợi dây kết nối con người với tổ tiên và thần linh.
Trong bối cảnh hiện đại hóa, những giá trị truyền thống này đứng trước nguy cơ mai một. Việc gìn giữ và phát huy các món ăn Tết đặc trưng không chỉ bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn góp phần phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam đa dân tộc, đa hương vị.
Mỗi món ăn ngày Tết của đồng bào thiểu số vì thế không chỉ là hương vị đầu năm, mà còn là ký ức, niềm tin và bản sắc được trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần làm nên bức tranh phong phú của văn hóa Việt Nam.