![]() |
| Toàn cảnh Diễn đàn “Năng lượng hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải”. (Nguồn: VCEA) |
Biến đổi khí hậu đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của nhân loại, trong đó Việt Nam thuộc nhóm quốc gia chịu tác động nặng nề. Cùng với yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và phát triển kinh tế xanh, việc tìm kiếm các nguồn năng lượng sạch, bền vững trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Theo đó, tại Quyết định 165/QĐ-TTg ngày 7/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái hydrogen đồng bộ từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối đến sử dụng, từng bước đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị hydrogen khu vực và thế giới.
Thực tế cho thấy, hydrogen, đặc biệt là hydrogen xanh, đang được xem là một trong những trụ cột của hệ thống năng lượng tương lai, đóng vai trò quan trọng trong quá trình khử carbon đối với các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và sản xuất điện.
Việc phát triển chuỗi giá trị hydrogen không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng mà còn mở ra cơ hội thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và thực hiện cam kết của Việt Nam đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Vì vậy, để thu hút đầu tư, hình thành thị trường hydrogen xanh và hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch năng lượng của Việt Nam, chuyên gia cho rằng, cần sớm tháo gỡ các điểm nghẽn.
Ba điểm nghẽn lớn
Chia sẻ tại Diễn đàn Năng lượng Hydrogen và Tương lai công nghiệp không phát thải vừa qua, PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA), Giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế để phát triển hydrogen xanh nhờ nguồn năng lượng tái tạo dồi dào. Miền Trung và Nam Trung Bộ có tiềm năng lớn về điện mặt trời quy mô lớn; khu vực duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ gió trung bình 8-10 m/s, phù hợp để phát triển điện gió. Đặc biệt, theo đánh giá của World Bank, tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam có thể đạt tới 600 GW.
“Tuy nhiên, ngành hydrogen trong nước vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu. Khoảng 500.000 tấn hydrogen được sản xuất hằng năm đều là hydrogen xám hoặc hydrogen đen, chủ yếu từ than tại các nhà máy Đạm Bắc Giang, Đạm Ninh Bình hoặc từ khí tự nhiên tại Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau.
Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có dự án hydrogen xanh quy mô thương mại. Dự án thí điểm đáng chú ý nhất là Edeflow tại Long An với quy mô 1 MW, sử dụng công nghệ điện phân kiềm trên cơ sở hợp tác giữa Việt Nam, Đức và Pháp”, PGS TS Phạm Hoàng Lương chia sẻ.
Theo ông Phạm Hoàng Lương, trong Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen, Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất 100.000-500.000 tấn hydrogen phát thải thấp mỗi năm vào năm 2030 và nâng lên 10-20 triệu tấn/năm vào năm 2050, từng bước hình thành ngành công nghiệp hydrogen xanh phục vụ mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần sớm tháo gỡ ba điểm nghẽn lớn.
![]() |
| PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, Giảng viên cao cấp Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam. (Nguồn: VCEA) |
“Trước hết là hạ tầng truyền tải và kết nối. Việc phát triển hydrogen xanh đòi hỏi hệ thống lưới điện xanh đồng bộ cùng hạ tầng lưu trữ năng lượng quy mô lớn, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và phân phối.
Thứ hai là năng lực công nghệ. Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ điện phân, thiết bị sản xuất hydrogen và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.
Thứ ba là hoàn thiện khung pháp lý, bao gồm hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế giá phù hợp đối với hydrogen phát thải thấp. Đây là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin cho nhà đầu tư và thúc đẩy thị trường phát triển”, PGS TS Phạm Hoàng Lương đề xuất.
Còn TS. Nguyễn Hữu Lương, Chuyên gia cao cấp về Hydro, Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng thực trạng hiện nay cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa chủ yếu (84%) vào nguồn năng lượng hóa thạch. Tổng mức phát thải hiện tại của cả nước đạt khoảng trên 500 triệu tấn CO2/năm và dự báo đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên gần gấp đôi, chạm mốc khoảng 1 tỷ tấn CO2/năm.
Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam hiện nay vẫn là sự phụ thuộc quá sâu vào nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt trong hai lĩnh vực mũi nhọn là giao thông vận tải và các ngành công nghiệp nặng (sản xuất thép, xi măng...). Xét về mặt chính sách liên quan trực tiếp đến ứng dụng hydrogen trong giao thông vận tải, Việt Nam đã có hai văn bản mang tính định hướng vĩ mô nền tảng: Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen quốc gia (Quyết định 165/QĐ-TTg) và Chương trình chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí methan của ngành Giao thông vận tải (Quyết định 876/QĐ-TTg).
“Dù hai quyết định trên đã tạo ra khung chính sách mang tầm vĩ mô, song Việt Nam vẫn đang thiếu các chính sách thực thi chi tiết. Chúng ta chưa ban hành hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn trong lĩnh vực giao thông vận tải. Chưa xây dựng lộ trình với các mục tiêu định lượng cụ thể như số lượng xe chạy bằng hydrogen hay số lượng trạm nạp cần thiết; đồng thời thiếu vắng các cơ chế trợ giá, đặc biệt là cho giai đoạn đầu triển khai”, chuyên gia này chỉ rõ.
Nhằm góp phần thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh, bền vững của Việt Nam, một số ý kiến cũng cho hay, việc hoàn thiện hành lang pháp lý cần đưa ra những cơ chế đủ mạnh để thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
Được biết, trước đó, để tạo nền tảng phát triển thị trường hydrogen xanh, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện Luật Hóa chất (sửa đổi), Luật Điện lực và nghiên cứu cơ chế ưu đãi đầu tư, giá điện cho sản xuất hydrogen; Bộ Xây dựng xây dựng chương trình chuyển đổi năng lượng xanh và bổ sung quy định sử dụng hydrogen trong lĩnh vực giao thông;
Bộ Tài chính nghiên cứu các chính sách thuế, tín dụng xanh và ưu đãi vốn vay, và Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét ứng dụng hydrogen như giải pháp thay thế nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất nông nghiệp.
Nhận thức về năng lượng hydrogen đã thay đổi đáng kể
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Đặng Hải Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương) cho biết, sau thời gian triển khai Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen, nhận thức về lĩnh vực năng lượng mới này đã thay đổi đáng kể. Chiến lược không chỉ tạo cơ sở cho việc xây dựng cơ chế chính sách mà còn thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và đầu tư liên quan đến hydrogen.
Theo ông Đặng Hải Anh, nếu như trước đây việc nghiên cứu hydrogen còn khá mới mẻ thì hiện nay nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và trung tâm khoa học đã từng bước nhận diện rõ các công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Các nhóm nghiên cứu trong nước cũng đã bắt đầu tiếp cận, đánh giá khả năng làm chủ nhiều công nghệ then chốt trong chuỗi giá trị hydrogen.
Ông cho biết một số hướng nghiên cứu mới đang được quan tâm, trong đó có công nghệ sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (E-SAF) thông qua việc kết hợp hydro với CO₂. Đây là lĩnh vực trước đây chưa được chú trọng nhưng hiện đã được đưa vào nghiên cứu và triển khai thí điểm tại một số dự án ở Việt Nam.
![]() |
| Ông Đặng Hải Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương) thông tin tại Diễn đàn. (Nguồn: VCEA) |
Bên cạnh công nghệ, ông Đặng Hải Anh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sự phát triển của ngành hydrogen. Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng khoa học - công nghệ giúp Việt Nam từng bước làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị hydrogen, từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển đến sử dụng, bảo đảm an toàn và phù hợp với thông lệ quốc tế.
“Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành và xây dựng lộ trình phát triển TCVN, QCVN cho lĩnh vực hydrogen đến năm 2030, định hướng đến các giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, số lượng tiêu chuẩn và quy chuẩn chuyên ngành hydrogen hiện vẫn còn rất hạn chế so với yêu cầu phát triển thực tiễn”, ông Hải Anh thông tin.
Theo ông, trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, việc xây dựng và hoàn thiện TCVN, QCVN sẽ được đẩy mạnh nhằm tạo hành lang kỹ thuật cho các dự án hydrogen. Đồng thời, quá trình rà soát cũng cho thấy Việt Nam cần nghiên cứu lộ trình phát triển phù hợp hơn, trong đó chú trọng các dẫn xuất của hydrogen nhằm tận dụng hạ tầng năng lượng hiện có.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện khung chính sách sẽ là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư, hình thành thị trường hydrogen xanh và hiện thực hóa mục tiêu chuyển dịch năng lượng của Việt Nam.
| Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển chuỗi cung ứng pin, hướng tới nền kinh tế năng lượng sạch toàn cầu Chiều 3/12, Văn phòng dịch vụ dự án Liên hợp quốc (UNOPS), thông qua Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), phối ... |
| Luật Năng lượng nguyên tử: Kỷ nguyên mới cho năng lượng sạch Với việc Luật Năng lượng nguyên tử (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, năng lượng hạt nhân một lần nữa được nêu bật ... |
| Cuộc đua năng lượng sạch của các 'ông lớn' châu Á Châu Á chiếm hơn một nửa mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu và cũng là nơi cuộc đua năng lượng sạch diễn ra quyết ... |
| Việt Nam - Anh tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính xanh, năng lượng sạch, tăng trưởng thích ứng với khí hậu Diễn đàn Đầu tư xanh Vương quốc Anh - Việt Nam 2026 do Đại sứ quán Anh tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán ... |
| An ninh năng lượng: Việt Nam trước kỷ nguyên 'vàng xanh' An ninh năng lượng ngày nay không còn được đo bằng việc có đủ nhiên liệu giá rẻ hay không, mà bằng khả năng chủ ... |


