Nhỏ Bình thường Lớn

Thổ Nhĩ Kỳ: 22 năm vươn tầm trong NATO

Khi Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) họp tại Istanbul năm 2004, Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu được nhìn nhận như chiếc cầu nối giữa châu Âu và Trung Đông. Hai mươi hai năm sau, khi liên minh trở lại Ankara, nước chủ nhà đã trở thành một nhân tố mà NATO không thể bỏ qua.
10.28. Thổ Nhĩ Kỳ - 22 năm vươn tầm trong NATO
10.28. Thổ Nhĩ Kỳ - 22 năm vươn tầm trong NATO. (Nguồn: Uwidata)

Hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara ngày 7-8/7 đánh dấu lần thứ hai Thổ Nhĩ Kỳ đăng cai một Hội nghị cấp nguyên thủ của liên minh. Điều đáng chú ý không nằm ở việc Ankara hai lần làm chủ nhà, mà ở sự thay đổi về vị thế của quốc gia này giữa hai lần đăng cai.

Điều gì đã tạo nên sự thay đổi ấy? Đó là quá trình tích lũy kéo dài hơn hai thập niên về năng lực quân sự, công nghiệp quốc phòng và một chính sách đối ngoại ngày càng tự chủ, mà theo giới nghiên cứu là “tự chủ chiến lược”.

Istanbul 2004: Khiêm tốn khi NATO mở rộng

Năm 2004, dù đăng cai Hội nghị thượng đỉnh NATO, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tham dự với vị thế khá khiêm tốn trong cấu trúc quyền lực của liên minh. Khi đó, ưu tiên đối ngoại lớn nhất của Ankara là tìm kiếm sự công nhận từ phương Tây thông qua tiến trình gia nhập Liên minh châu Âu (EU). Phải đến cuộc họp ngày 16-17/12/2004, EU mới xác nhận Thổ Nhĩ Kỳ đáp ứng các tiêu chí để mở đàm phán gia nhập; các cuộc đàm phán chính thức chỉ bắt đầu vào tháng 10/2005.

Năng lực quốc phòng của Thổ Nhĩ Kỳ khi đó cũng phản ánh vị thế ấy. Theo Al Jazeera, khoảng giữa những năm 2010, kim ngạch xuất khẩu quốc phòng của nước này mới đạt khoảng 1,9 tỷ USD; còn năm 2004, ngành công nghiệp quốc phòng nội địa vẫn ở quy mô nhỏ, khi Ankara chủ yếu mua vũ khí từ Mỹ và các đồng minh châu Âu thay vì trở thành một nhà xuất khẩu.

Trong NATO, Thổ Nhĩ Kỳ khi ấy được nhìn nhận chủ yếu qua vị trí địa lý: Cầu nối giữa châu Âu và thế giới Hồi giáo, hơn là một thành viên có khả năng định hình chương trình nghị sự bằng thực lực quân sự hay công nghiệp.

Điều đó cũng thể hiện qua chương trình nghị sự của Hội nghị Istanbul. NATO vừa hoàn tất một trong những đợt mở rộng lớn nhất lịch sử với bảy thành viên mới; quyết định mở rộng hiện diện tại Afghanistan; hỗ trợ Iraq huấn luyện lực lượng an ninh và chính thức chấm dứt sứ mệnh tại Bosnia.

Theo trang thông tin chính thức của NATO, dấu ấn gắn với Thổ Nhĩ Kỳ tại Hội nghị là việc nước này đăng cai lễ ra mắt Sáng kiến hợp tác Istanbul - cơ chế do NATO khởi xướng nhằm tăng cường kết nối với khu vực Trung Đông rộng lớn hơn, chứ không phải một sáng kiến của Ankara. Giữa bối cảnh đó, Thổ Nhĩ Kỳ, dưới sự điều hành của Tổng thống Ahmet Necdet Sezer và Thủ tướng Recep Tayyip Erdoğan, chủ yếu đóng vai trò nước chủ nhà hơn là một bên định hình nghị sự của liên minh.

Hai thập niên tích lũy và tự chủ

Khoảng cách giữa hai Hội nghị tại Istanbul (2004) và Ankara (2026) không chỉ là thời gian, mà còn là quá trình tích lũy năng lực và thay đổi chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ.

Năng lực cứng: Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), Thổ Nhĩ Kỳ hiện sở hữu lực lượng thường trực lớn thứ hai NATO, chỉ sau Mỹ, với khoảng 355.000 quân nhân tại ngũ. Tuy nhiên, bước chuyển quyết định nằm ở sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng. Dù theo đuổi mục tiêu tự chủ vũ khí từ giữa những năm 1980, Ankara chỉ thực sự tăng tốc trong khoảng một thập niên gần đây. Theo số liệu được DefenceWeb và AGBI dẫn lại, kim ngạch xuất khẩu quốc phòng đạt 7,1 tỷ USD năm 2024 và lập kỷ lục 8,5 tỷ USD năm 2025.

Máy bay không người lái Bayraktar TB2 đã được xuất khẩu tới hơn 30 quốc gia và thu hút sự chú ý khi chứng minh hiệu quả trong giai đoạn đầu xung đột Ukraine. Cùng lúc, Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục đầu tư vào các chương trình vũ khí thế hệ mới như tiêm kích tàng hình KAAN, xe tăng chủ lực Altay và hệ thống phòng không nhiều lớp Çelik Kubbe (Mái vòm Thép).

Điểm ngoặt chính sách: Bước ngoặt đến vào năm 2017, khi Thổ Nhĩ Kỳ xác nhận hoàn tất thỏa thuận mua hệ thống phòng không S-400 của Nga bất chấp cảnh báo từ Washington. Hậu quả đến ngay sau đấy khi tháng 7/2019, Ankara bị loại khỏi chương trình tiêm kích F-35; đến tháng 12/2020, Mỹ tiếp tục áp đặt các biện pháp trừng phạt theo Đạo luật CAATSA đối với Cơ quan Công nghiệp quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Chính sách đối ngoại (FPRI), quyết định mua S-400 của Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan gắn với mục tiêu theo đuổi chính sách đối ngoại tự chủ hơn, giảm phụ thuộc vào nguồn cung vũ khí phương Tây. Đây là lựa chọn cho thấy Ankara sẵn sàng chấp nhận “cái giá không nhỏ” để mở rộng dư địa hành động độc lập.

Tự chủ chiến lược: Khác với đầu những năm 2000, khi chính sách đối ngoại chủ yếu vận hành trong khuôn khổ liên minh phương Tây, Ankara hiện theo đuổi mô hình mà nhiều học giả, trong đó có nhóm nghiên cứu tại Viện Hoàng gia Các vấn đề quốc tế (Chatham House) của Anh, gọi là “tự chủ chiến lược”: Không hoàn toàn theo Mỹ, không hoàn toàn nghiêng châu Âu, vẫn duy trì hợp tác với Nga trong một số lĩnh vực nhưng đồng thời vẫn là thành viên đầy đủ và tích cực của NATO.

Mục tiêu của chính sách này không phải rời xa liên minh, mà là mở rộng dư địa hành động trong các hồ sơ liên quan Nga, Trung Đông và công nghiệp quốc phòng. Nhà phân tích Sinan Ülgen của Quỹ Carnegie vì hòa bình quốc tế đánh giá Thổ Nhĩ Kỳ hiện là một tác nhân an ninh không thể thiếu đối với NATO, với nền công nghiệp quốc phòng đang phát triển có thể giúp đáp ứng mong muốn của châu Âu về giảm phụ thuộc vào Mỹ.

Ankara 2026: Một vị thế khác

10.28. Thổ Nhĩ Kỳ - 22 năm vươn tầm trong NATO
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan phát biểu trước cuộc đàm phán giữa các nhà đàm phán Ukraine và Nga tại Istanbul ngày 29/3/2022. (Nguồn: Getty Images)

Theo Tổng thư ký NATO Mark Rutte, trọng tâm của Hội nghị Ankara là kiểm điểm việc triển khai các cam kết đạt được tại Hội nghị thượng đỉnh NATO ở The Hague (Hà Lan) năm 2025. Đây cũng là bước cụ thể hóa tầm nhìn “NATO 3.0”, theo đó các nước thành viên cam kết nâng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP vào năm 2035, châu Âu sẽ gánh vác nhiều hơn nhiệm vụ phòng thủ thông thường, trong khi Mỹ tiếp tục đảm nhận vai trò răn đe hạt nhân và hỗ trợ quân sự quy mô lớn.

Trong bối cảnh đó, Thổ Nhĩ Kỳ bước vào Hội nghị Ankara 2026 sau hơn hai thập niên tích lũy sức mạnh quân sự, phát triển công nghiệp quốc phòng và theo đuổi chính sách đối ngoại tự chủ hơn. Chính những năng lực ấy giúp Ankara giữ vai trò ngày càng nổi bật trong NATO. Sự thay đổi về vị thế của Ankara thể hiện qua cách nước này xử lý ba hồ sơ khu vực có ảnh hưởng trực tiếp tới NATO: Nga-Ukraine, Syria và Gaza.

Với xung đột Nga-Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ vừa cung cấp vũ khí và thiết bị bay không người lái cho Kiev, vừa viện dẫn Công ước Montreux để đóng cửa các eo biển đối với tàu chiến không thường trú tại Biển Đen - động thái mà các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Belfer thuộc Đại học Harvard (Mỹ) đánh giá đã hạn chế đáng kể khả năng Nga tăng viện cho Hạm đội Biển Đen.

Đồng thời, Ankara vẫn duy trì vai trò trung gian khi tổ chức nhiều vòng đàm phán hòa bình tại Istanbul và giữ kênh đối thoại với Moscow. Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) mô tả thế cân bằng này là một dạng “mơ hồ chiến lược” có chủ đích.

Tại Syria, sau khi chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad sụp đổ vào cuối năm 2024, Ankara đẩy mạnh nỗ lực đưa các lực lượng người Kurd vào cấu trúc an ninh của chính quyền mới nhằm giảm ảnh hưởng của Các đơn vị bảo vệ nhân dân (YPG). Thổ Nhĩ Kỳ cáo buộc YPG có liên hệ với đảng Công nhân người Kurd (PKK), tổ chức bị Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) liệt vào danh sách khủng bố. Dù tiến trình còn nhiều trở ngại, chính sách này phản ánh ưu tiên an ninh nhất quán của Ankara ở sườn nam NATO.

Trên hồ sơ Gaza, Thổ Nhĩ Kỳ là một trong số ít thành viên NATO lên án chính sách của Israel ngay từ đầu cuộc xung đột, qua đó tạo dựng vị thế riêng trong thế giới Hồi giáo. Ankara cũng tích cực tham gia các nỗ lực trung gian cho tiến trình ngừng bắn năm 2025.

Điểm chung của ba hồ sơ này là Ankara ngày càng khiến các đồng minh NATO, đặc biệt là Mỹ, phải tính đến lợi ích và lập trường riêng, thay vì chỉ thực thi chính sách chung của liên minh. Quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Thổ Nhĩ Kỳ là minh chứng rõ nét: Năm 2025, Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan được mời tới Nhà Trắng lần đầu tiên kể từ năm 2019, trong khi Washington cũng phát tín hiệu tích cực hơn về khả năng đưa Ankara trở lại chương trình F-35, phần nào đảo ngược hệ quả từ quyết định mua S-400 năm 2017.

Tuy nhiên, vị thế gia tăng đó không đồng nghĩa mọi nghi ngại đã được xóa bỏ. Theo Quỹ Carnegie vì hòa bình quốc tế, các giao dịch với Iran trong quá khứ liên quan đến Halkbank, cùng quan hệ kinh tế - năng lượng với Nga, vẫn khiến nhiều nước châu Âu dè dặt khi nói tới quan hệ đối tác an ninh sâu rộng hơn với Ankara, dù ngày càng thừa nhận năng lực quân sự và công nghiệp quốc phòng của nước này.

Nếu Istanbul 2004 phản ánh một Thổ Nhĩ Kỳ đang tìm kiếm vị trí trong NATO, thì Ankara 2026 cho thấy một Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành nhân tố có ảnh hưởng đáng kể trong liên minh. Những bất đồng với các đồng minh vẫn còn, nhưng trong bối cảnh NATO tái phân bổ trách nhiệm và quyền lực, Ankara đã trở thành một biến số chiến lược mà liên minh khó có thể bỏ qua.

Tổng thống Mỹ lại lên tiếng về chi tiêu quốc phòng của NATO

Tổng thống Donald Trump ngày 2/7 cho rằng, Mỹ chi nhiều tiền cho Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hơn bất kỳ ...

Bộ trưởng Quốc phòng Đức phản bác quan điểm của Tổng thống Trump về chi phí quân sự của NATO

Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius vừa lên tiếng bác bỏ quan điểm cho rằng, các thành viên NATO phải thể hiện sự trung ...

Lầu Năm Góc từng tính cắt thêm quân khỏi châu Âu, kế hoạch bị hoãn phút chót

Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth được cho là đã chuẩn bị một kế hoạch cắt giảm thêm lực lượng Mỹ tại châu Âu, ...

Trước thềm hội nghị thượng đỉnh NATO, Mỹ điện đàm với Nga và Ukraine, ông Zelensky hé mở về chấm dứt xung đột

Ngày 4/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump điện đàm với các nhà lãnh đạo của Nga và Ukraine để thảo luận về cuộc xung đột ...

Tổng thống Zelensky điện đàm Tổng thống Trump, kỳ vọng Mỹ mở đường chấm dứt xung đột

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết vừa có cuộc điện đàm với Tổng thống Mỹ Donald Trump, trong đó hai bên trao đổi về ...