Nhỏ Bình thường Lớn

Thủ bản kiệt tác viết tay Ấn Độ

Một báu vật trong kho tàng văn hóa nghệ thuật của Ấn Độ là những thư tịch viết tay (thủ bản) có từ thời cổ đại tới cận đại trên chất liệu thô sơ như vỏ cây, lá, đất sét, đá, gỗ, kim loại, ngà voi, xương thú, vải, da và giấy lụa.

Qua nghiên cứu, các học giả thấy rằng, những văn bản đầu tiên của Ấn Độ đã được viết trên vỏ cây dương và cây phong, một thứ cây khá phổ biến của lục địa, và một loại văn bản cổ nhất hiện nay là những bộ kinh Phật bằng chữ Gandhari và Kharosthi được thấy ở vùng Gandhara nằm giữa Pakistan và Afghanistan. Những bộ kinh văn này đã có tuổi đời từ 1.700 đến 2.000 năm. Một số cuốn kinh khác được viết trên lá cọ, cũng đã ra đời vào thế kỷ II song đến nay chỉ còn thấy những bản từ thế kỷ X.

Thủ bản sở dĩ có sức sống kỳ diệu như vậy là nhờ người dân và những tín đồ đã sao chép rồi bảo quản. Đây là lưu giữ các bút tích của người thân hoặc bạn bè và do sưu tầm được như một sở thích, một cách thờ phụng và tài sản để dành cho con cháu. Thủ bản được phổ biến một phần nữa nhờ công của những thợ chép sách. Họ vốn là những người giỏi chữ nghĩa, làm thủ thư, người trông coi kho sách cho nhà giàu, quan chức và khi cần thì viết thuê cho dân chúng.

Ngay từ xưa, thủ bản Ấn Độ đã hấp dẫn thế giới. Trước nguồn tri thức khổng lồ, đầu thế kỷ VII, nhà sư Huyền Trang - Trung Quốc thăm Ấn Độ khi về đã mang theo hàng trăm cuốn kinh viết tay. Cuối thế kỷ XVIII, thể hiện tình hòa hảo, đức vua Nawab Awadh đã tặng vua George III của Anh nhiều tặng phẩm mà đặc biệt là thủ bản Padshadnama, và nay nước Anh vẫn còn gìn giữ, trưng bày như một tuyệt tác đẹp nhất của hoàng gia.

Hiện nay, trên khắp nước này người dân đang giữ khoảng năm triệu thủ bản. Nơi bảo tồn thụ bản lớn nhất của Ấn Độ là bảo tàng quốc gia New Dehli. Tại đây có tới 14 nghìn thủ bản tuổi đời hơn nghìn năm. Nhiều kiệt tác như thủ bản Bhagavad Gita nằm trong bộ sử thi Mahabharata có những lời giáo huấn của thần Krisna đối với Arjuna là tiền đề của triết học Ấn Độ. Nơi thứ hai là các thư viện tư nhân, làng, thành phố và quốc gia, như thư viện Đông phương Hyderabad, thư viện Krishna Kanta Handiqui, thư viện Khuda Baksh, thư viện Saraswathi Mahal…

Ngoài thủ bản bằng tiếng địa phương, Ấn Độ còn có một lượng lớn thủ bản tiếng Ảrập và Ba Tư, và là nơi lưu trữ nhiều nhất thế giới về các tác phẩm viết tay chưa xuất bản bằng tiếng A rập, Ba Tư, Pushto, Sindhi, Thổ Nhĩ Kỳ… Riêng thư viện Đông phương Hyderabad quy tụ đến 7.1180 thủ bản dưới nhiều chủ đề và ngôn ngữ như Telugu: 2150 bản, Sanskrit 48884, Tamil 16398, Ba Tư 1.390… Ngoài ra, nhiều thủ bản còn được lưu trữ tại các thư viện thế giới mà chủ yếu là ở London, Anh trong catalogue lớn.

Ấn Độ đã có nhiều cuộc khảo cứu thu thập, phục chế và bảo tồn thủ bản. Trong đó nhiều học giả nước ngoài tham gia như nhà triết học William Jones, học giả về chữ Telugu C.P.Brown, nhà du lịch và ngôn ngữ phương đông John Leyden, thống đốc đầu tiên của Ấn Độ Colin Mackenzie, học giả chữ Sanskrit Charles Wilkins… Năm 1781, William Jones đã thành lập Hội nghiên cứu châu Á ở thành phố Bengal thu nhận các tác phẩm viết tay của mọi gia đình, học giả, trường học, đền thờ và thư viện làng khắp nước này. Năm 1803, đây là nơi đi đầu ở Ấn Độ bắt tay vào xây dựng danh mục thủ bản.

Đầu thập niên 1990, nước này đã tiến một bước ngoặt trong việc lập danh sách thủ bản khi trung tâm quốc gia Indira Gandhi về mỹ thuật đã dựng cáctalô và vi phim cho 100 nghìn thủ bản quan trọng nhất. Tiếp tục năm 2003, Bộ Văn hóa và Du lịch Ấn Độ đã thực hiện một chương trình mang tên Nhiệm vụ quốc gia về thủ bản xác định vị trí, lập tài liệu, quy tập, bảo tồn và phục hồi toàn diện thủ bản. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng để miêu tả, cắt nghĩa, bình luận rõ ràng nhất về mỗi thủ bản.

Điều đầu tiên gây chú ý ở mỗi thủ bản là nghệ thuật viết chữ đẹp (thi pháp), mỗi hàng chữ đều đầy tính biểu tượng, vẽ uyển chuyển giữa họa tiết hoa lá, rồng mây, muông thú. Đó là những mẩu chuyện, khi ghép nối sẽ tạo dựng được một bức tranh rực rỡ về xã hội. Thứ hai là sự đa dạng về các lĩnh vực, đặc biệt là khía cạnh tôn giáo và sinh hoạt đời thường, sự tồn tại đồng thời của nhiều nền văn hóa đan xen hiền hòa. Thứ ba là sự vẹn nguyên của tác phẩm, cho thấy kỹ nghệ bảo quản và tình yêu sách của người dân.

CHU MẠNH CƯỜNG