![]() |
| Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của Việt Nam vẫn còn rất lớn, trải rộng từ công nghiệp, xây dựng đến thương mại và nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế. (Nguồn: Bộ Công Thương) |
Nhìn từ các mô hình mà quốc tế đang triển khai, có thể nhận thấy điểm chung là các cam kết không chỉ dừng ở mục tiêu, mà thường đi kèm những cơ chế có khả năng tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Với Việt Nam, điều đáng chú ý là cách các nguồn lực tài chính, công nghệ và thị trường sẽ được kết nối để hướng tới mục tiêu tiết kiệm khoảng 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng vào năm 2030.
Nghịch lý đầu tư
| More from WVR |
Nhu cầu năng lượng tăng nhanh khiến bài toán đầu tư trở nên cấp bách hơn. Hồi tháng Tư, tại một diễn đàn về năng lượng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hoàng Quang Phòng cho rằng, với mục tiêu GDP năm 2026 vượt 10%, nhu cầu điện năng được dự báo tăng 12-15% mỗi năm, yêu cầu bảo đảm điện cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới sẽ tạo sức ép lớn lên hệ thống năng lượng.
Nhưng mở rộng nguồn cung không phải là con đường duy nhất. Tại Diễn đàn “Tiết kiệm năng lượng - cần sự chung tay của toàn xã hội” (6/2026) tại Hà Nội, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, cũng đặt vấn đề về khả năng huy động nguồn lực cho các khoản đầu tư giúp doanh nghiệp sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.
Theo ông, rào cản đầu tiên nằm ở nhận thức, khi không ít doanh nghiệp vẫn hiểu tiết kiệm năng lượng là cắt giảm sản xuất, thay vì tối ưu hóa để tạo ra giá trị kinh tế cao hơn với mức tiêu hao thấp hơn. Ông nhấn mạnh, rào cản lớn hơn nằm ở tài chính: nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ nhưng khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi còn hạn chế, trong khi các tổ chức tín dụng cũng chưa có nhiều sản phẩm tài chính chuyên biệt cho lĩnh vực này.
Đây chính là nghịch lý cố hữu của tiết kiệm năng lượng: đầu tư hôm nay, lợi ích đến sau. Gần như ai cũng đồng ý rằng công nghệ hiệu quả hơn sẽ tiết kiệm chi phí về lâu dài, nhưng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn phải bỏ vốn trước, trong khi lợi ích chỉ đến dần theo thời gian.
Khoảng cách từ quy định đến vận hành
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương, phát biểu tại Hội thảo tham vấn Dự thảo thành lập Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngày 13/8 tại Đà Nẵng. (Nguồn: Bộ Công Thương) |
Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của Việt Nam vẫn còn rất lớn, trải rộng từ công nghiệp, xây dựng đến thương mại và nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động cải tiến dây chuyền sản xuất, thay thế thiết bị hiệu suất thấp, tối ưu hóa hệ thống và đầu tư công nghệ mới. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn vốn và khả năng tiếp cận tài chính.
Theo bà, đó cũng là lý do việc thiết kế và xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (Quỹ) được đặt ra như một công cụ quan trọng để đưa các mục tiêu và định hướng chính sách vào thực tế.
Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (Luật số 77/2025/QH15) đã đặt ra định hướng xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đây là một công cụ được kỳ vọng sẽ tạo thêm nguồn lực tài chính, giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn ưu đãi hoặc vốn xanh thay vì chỉ phụ thuộc vào các khoản vay thương mại thông thường.
Tại Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, hoàn thành trong năm 2026. Đây là mốc thời gian được đặt ra rõ ràng ở cấp cao.
Trên thực tế, quá trình xây dựng mô hình Quỹ đang được triển khai: ngày 13/8, tại Đà Nẵng, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) đã tổ chức hội thảo tham vấn dự thảo thành lập Quỹ, lấy ý kiến về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và nguồn lực tài chính. Đây là một bước đi cần thiết trước khi đề án được hoàn thiện để trình Chính phủ.
Một tín hiệu đáng chú ý là các bên liên quan đã bắt đầu chủ động chuẩn bị vai trò của mình. Tại hội thảo, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), đơn vị có kinh nghiệm quản lý ủy thác cho vay qua nhiều quỹ chính sách, cho biết đã sẵn sàng tham gia với hai vai trò: ngân hàng nhận ủy thác cho vay và ngân hàng phục vụ Quỹ.
Trong khi đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng đưa ra kiến nghị cần chuẩn hóa mô hình doanh nghiệp dịch vụ năng lượng (ESCO). Theo mô hình này, một bên thứ ba có thể tham gia đầu tư, triển khai và vận hành các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sau đó thu hồi vốn từ phần lợi ích tạo ra nhờ mức tiết kiệm đạt được. Cách tiếp cận này có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng vốn đầu tư ban đầu.
So sánh với mô hình chứng chỉ tiết kiệm năng lượng có thể giao dịch (PAT) của Ấn Độ, nơi toàn bộ chuỗi đặt chỉ tiêu, đo lường, xác minh, cấp chứng chỉ và giao dịch đã vận hành hơn một thập kỷ, khoảng cách của Việt Nam không nằm ở thiếu ý tưởng, mà ở thời gian cần để biến ý tưởng thành một cơ chế vận hành trơn tru, có sự tham gia đồng bộ của ngân hàng, doanh nghiệp dịch vụ năng lượng và cơ quan quản lý.
Khơi thông nguồn lực: Khi Quỹ trở thành chất xúc tác
![]() |
| Lợi ích của mô hình ESCO đối với doanh nghiệp. (Nguồn: Techsouth) |
Cũng tại Hội thảo tham vấn Dự thảo thành lập Quỹ hôm 13/8, ông Phạm Phan Dũng, đại diện Nhóm nghiên cứu hỗ trợ Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công thiết kế Quỹ, đã trình bày kết quả rà soát 16 quỹ tiết kiệm năng lượng tại 10 quốc gia. Từ kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu cho rằng, Quỹ không nên được nhìn đơn thuần như một nguồn vốn cho vay ưu đãi: các mô hình được nghiên cứu trải từ tài chính trực tiếp, tài trợ không hoàn lại đến trung gian tài chính, chia sẻ rủi ro và mô hình kết hợp.
Theo nhóm nghiên cứu, hướng được đánh giá cao là kết hợp nhiều công cụ tài chính cùng với hỗ trợ kỹ thuật và kiểm soát chất lượng dự án. Nếu Quỹ chỉ tập trung cho vay ưu đãi đơn lẻ, quy mô tác động sẽ phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ban đầu nhưng nếu kết hợp nhiều công cụ, hiệu ứng lan tỏa có thể lớn hơn nhiều.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, cách tiếp cận này gợi ra một vai trò rộng hơn cho Quỹ: không chỉ cung cấp vốn, mà còn có thể kết nối nguồn lực từ ngân sách, hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế. Quỹ, theo đó, được hình dung như một công cụ tài chính có vai trò xúc tác thị trường, thay vì thay thế các kênh tín dụng thương mại.
Điều này phù hợp với định hướng xây dựng Quỹ của Việt Nam. Theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Quỹ là một công cụ để huy động và kết nối các nguồn lực từ Nhà nước, khu vực tư nhân, các tổ chức tài chính và đối tác phát triển. Bên cạnh nguồn lực tài chính, Quỹ cũng có thể kết nối các nguồn lực kỹ thuật và quốc tế để hỗ trợ doanh nghiệp trong kiểm toán năng lượng, chuẩn bị dự án, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ.
Soi chiếu vào bài toán của Việt Nam, từ kinh nghiệm của EU có thể áp dụng cách chia nhỏ mục tiêu quốc gia thành những nghĩa vụ định lượng, đi kèm cơ chế kiểm toán và đo lường. Cách tiếp cận này cho thấy các công cụ tài chính, nếu được triển khai, cũng cần có những tiêu chí đủ rõ để phần năng lượng tiết kiệm được có thể được theo dõi và đánh giá.
Từ Nhật Bản, bài học nằm ở việc tạo áp lực đầu tư thông qua cạnh tranh công nghệ và việc liên tục nâng chuẩn hiệu suất. Hệ thống dán nhãn năng lượng của Việt Nam, với hơn 40.000 sản phẩm được dán nhãn theo dữ liệu của Bộ Công Thương, cho thấy một nền tảng thị trường đã được hình thành.
Còn từ kinh nghiệm từ Ấn Độ - biến phần năng lượng tiết kiệm được thành một giá trị có thể đo lường, xác minh và trao đổi như mô hình PAT - là hướng đi xa nhất và cũng khó nhất trong ba hướng. Đây không phải là điều được thiết kế cho Quỹ hiện tại và cũng chưa phải là ưu tiên trước mắt của Việt Nam. Nhưng nếu khung pháp lý, dữ liệu đo lường và hệ thống kiểm toán năng lượng được củng cố đủ vững trong giai đoạn 2026-2030, đây có thể là bước tiếp theo đáng cân nhắc.
Gỡ được nút thắt về vốn và đưa các công cụ như Quỹ, ESCO hay hệ thống dán nhãn năng lượng vào vận hành hiệu quả có thể mới chỉ là một bước trong quá trình dài hơi. Nếu những nút thắt này thực sự được tháo gỡ trong vài năm tới, một câu hỏi lớn hơn sẽ mở ra: liệu tiết kiệm năng lượng có thể tiến thêm một bước nữa, từ một khoản chi phí trở thành một trong những động lực tạo nên tăng trưởng kinh tế bền vững? Đó sẽ là câu hỏi trung tâm của kỳ cuối của chùm bài này.
Mời độc giả đón đọc kỳ cuối: Tạo dư địa tăng trưởng trong kỷ nguyên mới
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ I): 'Lá chắn' bảo vệ doanh nghiệp Khi doanh nghiệp xác định đích đến là sử dụng năng lượng hiệu quả để tạo ra nhiều giá trị hơn thì mỗi kilowatt giờ ... |
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ II): ‘Đòn bẩy’ cho nền kinh tế xanh Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhất để bảo đảm an ninh năng lượng ... |
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ III): Kinh nghiệm của quốc tế Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng đang buộc nhiều nền kinh tế phải mở rộng cách nhìn về nguồn lực năng lượng: Không chỉ ... |
| Làm việc từ xa có tiết kiệm năng lượng? Giá năng lượng tăng cao khiến nhiều nước Đông Nam Á đẩy mạnh làm việc từ xa để giảm chi phí. Nhưng hiệu quả tiết ... |
| Thông điệp tiết kiệm điện '2 Bật - 3 Tắt' trong những ngày thời tiết nắng nóng đặc biệt gay gắt Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVNHANOI) khuyến nghị khách hàng sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả cùng thông điệp "2 ... |


