
“Người cười nụ, kẻ khóc thầm”
Cuộc xung đột Nga – Gruzia khiến người ta đang hoài nghi về cuộc chiến tranh lạnh (CTL) mới, một triển vọng khiến nhiều người thấy u ám nhưng các nhà thầu quân sự lại xem đây như là một cơ hội kiếm lời. Sự căng thẳng giữa Washington và Mátxcơva báo trước khả năng chi tiêu quân sự “mạnh tay”, với hàng tỷ đôla bổ sung cho các hệ thống chống tên lửa đạn đạo, trang bị cho binh lính và các thiết bị xây dựng các căn cứ quân sự mới ở Đông Âu…
Nhưng cũng sẽ có những người mất mát, như những người đóng thuế sẽ thấy tiền của họ được trang trải cho “an ninh quốc gia” và giảm chi tiêu cho các chương trình phúc lợi. Tuy nhiên, việc người ta phóng đại về nỗi lo sợ đối đầu Đông – Tây, làm chệch hướng nguồn tiền khỏi các nhu cầu nội địa để đổ vào nơi mà Dwight Eisenhower phong cho cái tên là “tổ hợp công nghiệp quân sự”, là không có gì mới.
Người ta có thể cho rằng, “CTL nguyên bản” đã kết thúc năm 1972 khi Tổng thống Nixon trở về từ Mátxcơva mang theo một hiệp định cắt giảm vũ khí chiến lược. Nixon cho rằng từ đây mở ra kỷ nguyên hợp tác chính trị thực dụng giữa Washington và Mátxcơva, gọi là giai đoạn “tình hình lắng dịu”. Tuy nhiên, các công ty cung cấp thiết bị quân sự hay những người kiếm lợi bằng cách phóng đại những nỗi sợ hãi và làm trầm trọng sự căng thẳng (chẳng hạn như một số nhà báo, những chính trị gia theo đường lối cứng rắn…), lại tỏ ra không mấy hào hứng với “sự lắng dịu” này.
“Tăng tốc”
Bởi thế, thời kỳ “lắng dịu” của Nixon thật ngắn ngủi. Sau khi bị đánh bật khỏi Nhà Trắng vì vụ Watergate năm 1974, một “dạng thức mới” của CTL quay trở lại cũng với các chiêu thức cũ như thổi phồng những mối đe dọa và hoài nghi.
Năm 1975, Tổng thống Ford đương đầu với một thách thức trong nội bộ đảng Cộng hòa, từ Ronald Reagan, khiến nhiều nhân vật chủ chốt ủng hộ xu thế lắng dịu bị thanh lọc, còn các nhà cứng rắn thì được giao những nhiệm vụ quan trọng. Kissinger, kiến trúc sư của “tình hình lắng dịu”, bị tước chức cố vấn an ninh quốc gia, thay bằng Tướng Scowcroft.
Ngay sau đó, những lời đồn đoán bắt đầu lan tỏa khắp Washington về một loại vũ khí bí mật mới của Liên Xô, một tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân mà công nghệ Mỹ không thể dò tìm được. Con tàu ngầm này của Liên Xô có thể che dấu ở ngoài khơi Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, sẵn sàng thực hiện một cuộc tấn công hạt nhân mà không cảnh báo. Bởi thế, cụm từ “lắng dịu” gần như đã bị loại khỏi vốn từ của chính quyền Ford.
Để giành phần thắng
Năm 1980, với việc thắng cử của Ronald Reagan, phiên bản của CTL và các đồng minh tân bảo thủ trẻ hơn đã giành được thế thượng phong. Họ tìm cách chôn bất cứ dấu vết nào về sự “lắng dịu” của Nixon-Kissinger.
Tại CIA, Giám đốc Casey theo đường lối cứng rắn và phó của ông ta, Robert Gates, thanh trừng các nhà phân tích CIA, những người vẫn khăng khăng về sự suy giảm của Liên Xô. Họ chỉ chấp nhận những người đồng ý kiến rằng Liên Xô đang cường thịnh và nuôi mộng thống trị thế giới.
Để đối phó với mối đe dọa của Liên Xô, Mỹ đã chi phí lớn cho quốc phòng, kết hợp với các hoạt động mờ ám liên quan đến các cuộc chiến tranh từ Trung Mỹ cho đến Afghanistan. Ở những nơi đó, chính quyền của Reagan gửi các vũ khí tinh nhuệ cho các lực lượng phản loạn, bao gồm cả những người theo Hồi giáo chính thống như Osama bin Laden.
Mỉa mai thay, khi Liên Xô tan rã vào 1991, Ban phân tích tình hình của CIA đã giả vờ “lờ” đi sự kiện quan trọng này. Trong khi đó, truyền thông Mỹ tin rằng Reagan đã bỏ ra những chi phí quân sự khổng lồ, đặc biệt là chương trình “Cuộc chiến giữa các vì sao” và cuộc chiến Afghanistan để giành “chiến thắng” trong CTL.
Trong khi đó - những người cho rằng sức mạnh của Liên Xô đang giảm dần từ thập niên 1970 và các chiến lược gây hấn của Reagan chẳng qua đã làm cho CLT thêm kéo dài - đã bị lờ đi hoặc bị sa thải.
Khi George Bush là Tổng thống năm 2001, chính quyền của ông đã chào đón sự trở lại của nhiều nhà tân bảo thủ chủ chốt và những người theo đường lối cứng rắn đã phục vụ dưới thời các chính quyền của đảng Cộng hòa trước đây.
Chiến lược tân bảo thủ
Thực tế là ông Bush chưa bao giờ xem ông Putin như một đối tác tin cậy. Những lời nhận xét tử tế của Bush đối với Putin chỉ là bề ngoài của một chiến dịch ngăn chặn và làm suy yếu Nga.
Chẳng hạn, tháng 6/2002, ông Bush rút khỏi Hiệp ước tên lửa đạn đạo Nixon ký năm 1972, để mở đường cho việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa mà Mátxcơva xem đó như là mối đe dọa chiến lược.
Chính quyền Mỹ và các đồng minh cũng ủng hộ việc xây dựng đường ống dẫn dầu Baku-Tblisi-Ceyhan để tránh đưa dầu từ Caspi đến phương Tây qua lãnh thổ Nga. Mỹ cũng đổ tiền cho các tổ chức chính trị giúp các phong trào chính trị chống Nga. Chính quyền Bush cũng tiếp tục gây áp lực lên Mátxcơva bằng cách kết nạp các quốc gia nằm trong hiệp ước Warsaw vào NATO.
Năm 2007, ông Bush thông báo kế hoạch triển khai các tên lửa lá chắn ở Ba Lan với các trạm radar hỗ trợ ở Czech. Mặc dù ông cho rằng hệ thống tên lửa này là nhằm vào các nước trong trục ma quỷ, nhưng Nga xem đây là động thái đe dọa quốc gia này.
Nga “phản pháo”
Quả thực mà nói, các nhà lãnh đạo Nga tin chắc rằng những lời của Bush về mối quan hệ đối tác chỉ là ngụy trang. Putin đã quyết tâm khôi phục lại khả năng quân sự khi giá dầu, khí và sắt tăng.
Bởi thế, khi diễn ra xung đột Nga và Gruzia, Tổng thống Bush, Thượng nghị sỹ McCain và các nhà bình luận phái tân bảo thủ, trong đó có tờ Washington Post, đã phẫn nộ chống lại sự tấn công quân sự của Nga, nhưng người Nga đã không nhụt chí. Họ đồng ý ngừng bắn theo những điều khoản đã ký. Tuy nhiên, Bush đã biến những từ ngữ tức giận thành hành động.
Ngày 15/8, Mỹ và Ba Lan cuối cùng đã ký hiệp định triển khai tên lửa phòng thủ của Mỹ vào lãnh thổ Ba Lan. Ngay ngày sau đó, Bộ Ngoại giao Nga đã lên án động thái trên của Mỹ là một hành động đe dọa an ninh của Nga và cảnh báo khả năng có hành động quân sự chống lại Ba Lan.
Nhiều nhà quan sát cho rằng hiện Nga đang đối mặt với tình thế tương tự những gì Tổng thống Kennedy phải đương đầu năm 1962, khi Liên Xô lắp đặt tên lửa ở Cuba, gây nên một cuộc khủng hoảng có thể đẩy thế giới nằm bên bờ vực một cuộc chiến hạt nhân trước khi Mátxcơva dịu lại và tháo bỏ tên lửa.
Thảo Nguyên(Theo Middle East Online)