| Cụm mô hình, pano, biểu ngữ, băng rôn... chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam được dựng và treo tại nút giao Độc Lập, Điện Biên Phủ. (Ảnh: Thành Long) |
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đang đến gần. Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội đã nêu mô hình tăng trưởng mới dựa chủ yếu vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%/năm. Ông đánh giá như thế nào về mô hình tăng trưởng mới này?
Tôi cho rằng những mục tiêu được đề ra rất tham vọng, nhưng thành công là hoàn toàn có thể.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã chứng minh mình là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng do đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng – điều rất hiếm hoi và đặc biệt vào thời điểm đó.
| Tiến sĩ Patrick Horvath, Tổng thư ký Quỹ Chính sách kinh tế khoa học (WIWIPOL), Áo. (Ảnh: TGCC) |
Tôi tin rằng chỉ riêng đà gia tăng dân số cũng sẽ mang lại cho Việt Nam một mức tăng trưởng kinh tế “được bảo đảm” trong một hoặc hai thập kỷ tới.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo hứa hẹn tạo ra hiệu quả cao hơn trong sản xuất. Nếu Việt Nam muốn thúc đẩy tăng trưởng hơn nữa, thì việc nâng cao năng lực trong các lĩnh vực này là hướng đi hoàn toàn đúng đắn.
Nếu đến năm 2045 Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao và công nghiệp hóa ở mức độ lớn, thì các ưu tiên của đất nước cũng sẽ cần được điều chỉnh lại.
Giống như ở Áo, khi người dân đã đạt được một mức sống cao nhất định, họ sẽ chuyển trọng tâm từ việc làm kinh tế sang chất lượng cuộc sống. Khi đó, một kỳ Đại hội Đảng trong tương lai sẽ phải tiếp tục điều chỉnh các định hướng phát triển.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, ông đánh giá như thế nào về tầm nhìn hội nhập vào dòng chảy chính của thời đại, cũng như đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, là bạn và đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế, đồng thời tích cực đóng góp vào gìn giữ hòa bình và giải quyết các thách thức toàn cầu của Việt Nam?
Theo tôi, chính sách đối ngoại của Việt Nam là một ngọn hải đăng của hy vọng đối với cả thế giới, và Bộ Ngoại giao Việt Nam đang làm một công việc thực sự xuất sắc.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mới với những diễn biến bất thường, khó lường, chưa từng có tiền lệ trong quan hệ quốc tế. Cách tiếp cận của nhiều quốc gia đi trái lại với luật pháp quốc tế và nếu nó thắng thế, sẽ là một bước thụt lùi của văn minh nhân loại, kéo theo hàng trăm cuộc xung đột vũ trang không hồi kết, gây ra những đau khổ không thể diễn tả.
Việt Nam hoàn toàn khác biệt trong cách tiếp cận đó. Việt Nam ủng hộ, tin tưởng vào trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế và định hình bởi hợp tác đa phương trên nền tảng lòng tin lẫn nhau. Tôi tin rằng các vấn đề toàn cầu ngày nay không thể được giải quyết bởi một quốc gia đơn lẻ, mà chỉ có thể thành công khi các quốc gia cùng nhau hợp tác. “Quyền lực mềm” chính là chìa khóa cho thành công của chủ nghĩa đa phương.
Việt Nam đã phải gánh chịu những mất mát to lớn do chiến tranh và vì vậy hiểu rất rõ rằng gìn giữ hòa bình là điều vô giá. Với tư cách là một quốc gia nhỏ, nước Áo hoàn toàn chia sẻ và đồng tình với quan điểm này. Chúng tôi là đất nước trung lập và yêu chuộng hòa bình ở trung tâm châu Âu. Áo là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và tôi hy vọng hai nước sẽ tiếp tục là những người bạn tin cậy của nhau. Hợp tác, sát cánh cùng nhau để thúc đẩy những giá trị của hòa bình.
| Chuyên gia Áo tin tưởng vào tầm nhìn phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam theo tinh thần của Nghị quyết 57. (Ảnh: Chu Văn) |
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10% sau Đại hội XIV, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết mang tính đột phá, nhấn mạnh cải cách thể chế, đổi mới sáng tạo, phát triển khu vực tư nhân và hội nhập quốc tế phục vụ phát triển. Ông đánh giá thế nào về cách tiếp cận chủ động và sớm này trong việc chuẩn bị nền tảng cho những bước đột phá lớn trong giai đoạn phát triển mới?
Một loạt nghị quyết gần đây của Việt Nam đã đặt nền móng cho những bước phát triển tích cực tiếp theo. Theo tôi, lãnh đạo Việt Nam đã xác định các ưu tiên cho đất nước một cách hoàn toàn chính xác.
Theo tôi, nghị quyết có tầm ảnh hưởng nhất là Nghị quyết 57, với mục tiêu đưa Việt Nam bước vào một tương lai số. Trong khi nhiều chính trị gia châu Âu chỉ nghĩ đến cuộc bầu cử kế tiếp, tôi rất khâm phục việc lãnh đạo Việt Nam nhìn xa hàng thập kỷ.
Tôi cũng đánh giá cao sự dũng cảm được toát lên từ Nghị quyết 57, với tinh thần minh bạch tuyệt đối đã chỉ ra những vấn đề mà Việt Nam vẫn cần phải khắc phục. Chẳng hạn, nghị quyết yêu cầu cải cách hệ thống giáo dục, mở rộng không gian cho sáng tạo và học tập - những yêu cầu thiết yếu cho việc phát triển một tương lai số. Tôi tin chắc rằng người Việt Nam có đủ tinh thần và trí tuệ để một ngày nào đó đứng vào hàng ngũ những lập trình viên giỏi nhất thế giới.
Tuy nhiên, theo tôi, một số yêu cầu của Nghị quyết 57 cần được cụ thể hóa hơn nữa, chẳng hạn như mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư trí tuệ nhân tạo – điều này sẽ được thực hiện cụ thể như thế nào? Tôi hy vọng rằng Áo, với các trường đại học và trung tâm đào tạo danh tiếng như Đại học Kỹ thuật Vienna và Graz, có thể góp phần đào tạo một “thế hệ số” mới cho Việt Nam.
Trong tiến trình thực hiện hai mục tiêu 100 năm – kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 100 năm thành lập nước cùng khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, theo ông, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những cơ hội và thách thức lớn nào, cả trong nước và quốc tế?
Tôi cho rằng Việt Nam đang đi đúng hướng, nhưng dĩ nhiên phía trước vẫn còn những thách thức có thể cản trở hoặc làm chậm quá trình phát triển trong tương lai. Tôi xin phân biệt các thách thức ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Về ngắn hạn, Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam đã ký Hiệp định Thương mại tự do (FTA), hiện đang có hiệu lực. Hiệp định này mang lại nhiều cơ hội cho cả hai bên. Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ tiềm năng, một hiệp định thứ hai – Hiệp định Bảo hộ Đầu tư – cần được phê chuẩn. Đến nay, 20 nước thành viên EU đã phê chuẩn hiệp định này, nước gần đây nhất là Ba Lan vào tháng 11/2025.
Vẫn còn 7 nước EU chưa phê chuẩn, nhưng điều này là cần thiết để hiệp định có hiệu lực. Chúng ta phải đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn để bảo đảm quan hệ kinh tế tốt đẹp trong tương lai. Tôi tin tưởng rằng kế hoạch quan trọng này sớm hay muộn cũng sẽ thành công.
Về trung hạn, tôi xin nhắc tới Nghị quyết 57. Văn kiện chiến lược này của Việt Nam đã đúng đắn chỉ ra rằng, để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, Việt Nam phải đầu tư vào việc xây dựng hạ tầng mới. Một ví dụ là việc phủ sóng 5G trên toàn quốc, hiện vẫn chưa hiệu quả ở một số khu vực. Lãnh đạo Việt Nam đã nhận diện được vấn đề này và đang triển khai các giải pháp hiện đại. Tôi rất tin tưởng rằng Việt Nam sẽ xử lý tốt thách thức về hạ tầng.
Về dài hạn, việc duy trì ổn định và hòa bình ở khu vực Đông Nam Á là vô cùng quan trọng. Bên cạnh các cuộc khủng hoảng tài chính hay sụp đổ ngân hàng, xung đột thậm chí là chiến tranh là những thứ tốn kém nhất. Chiến tranh là những “hố đen” khổng lồ nuốt chửng của cải của các quốc gia. Nhân dân Việt Nam đã anh dũng bảo vệ nền độc lập của mình trước mọi kẻ xâm lược, điều đó thật đáng khâm phục. Nếu không bị buộc phải tiến hành chiến tranh mà có thể dồn công sức và tiềm năng sáng tạo vào khoa học và kinh tế, tôi tin rằng Việt Nam ngày nay đã có thể nằm trong số những quốc gia giàu có nhất thế giới.
Các hiện tượng thời tiết trong năm 2024 và 2025 liên quan đến bão và lũ lụt ở Việt Nam khiến tôi vô cùng lo ngại. Việt Nam cần tăng cường năng lực dự báo và khả năng chống chịu trước thiên tai, và một lần nữa tôi hy vọng Áo có thể hỗ trợ bằng tri thức và công nghệ.
| Đại sứ Việt Nam tại Áo Vũ Lê Thái Hoàng và phu nhân giao lưu cùng các sinh viên Việt Nam tại Áo. (Ảnh: Chu Văn) |
Từ góc nhìn của một chuyên gia quốc tế, ông có những khuyến nghị và đề xuất chính sách gì để giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu đã đề ra trong 5 năm tới?
Đại sứ quán Việt Nam tại Vienna đã rất thành công khi khởi xướng “Đối thoại Công nghệ”, kết nối các đại diện của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và giới học thuật của cả Việt Nam và Áo để trao đổi tri thức. Áo là một quốc gia phát triển cao, công nghiệp hóa, với nhiều thế mạnh, trong đó có ngành công nghiệp bán dẫn có tầm quan trọng toàn cầu, cũng như năng lực trong các lĩnh vực như an ninh mạng.
Trong khoa học sự sống, Áo có các cơ sở đào tạo danh tiếng như Đại học BOKU hay Trung tâm Sinh học Vienna nổi tiếng. Vienna là một trung tâm quốc tế của ngành công nghiệp dược phẩm. Gần đây, nhà khoa học Áo, Giáo sư Zeilinger, đã nhận Giải Nobel cho nghiên cứu về cơ học lượng tử, điều này đã tạo ra những bước phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực này. Trường Đại học Leoben (ở bang Styria) chuyên về khai khoáng và là một trong những nơi phát triển máy móc khai thác mỏ hàng đầu thế giới, với tỷ lệ việc làm gần như 100% cho sinh viên tốt nghiệp.
Danh sách các thế mạnh của Áo có thể còn dài nữa. Nhưng điều quan trọng nhất theo tôi là: Áo là nước dẫn đầu thế giới về công nghệ môi trường. Nếu Việt Nam muốn theo đuổi con đường tăng trưởng, thì vẫn phải bảo vệ thiên nhiên cho các thế hệ tương lai. Chuyên môn của Áo về công nghiệp xanh và phát triển đô thị thông minh chắc chắn có thể hỗ trợ Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới.
Khuyến nghị của tôi là tiếp tục và làm sâu sắc hơn hình thức hợp tác công nghệ quốc tế này. Tôi cũng đề xuất đặt trọng tâm đặc biệt vào giáo dục, bởi đây là chìa khóa cho sự phát triển của một quốc gia. Có một câu nói rằng: "Nếu bạn thực sự muốn giúp ai đó, đừng cho họ con cá, mà hãy dạy họ cách câu cá".
Mỗi quốc gia đều được thiên nhiên ban tặng những nguồn lực riêng. Ở Áo, những ngọn núi mang lại cho chúng tôi nguồn nước ngọt dồi dào, các tài nguyên như muối, cũng như tiềm năng du lịch và thủy điện. Tôi tin rằng kho báu lớn nhất của Việt Nam chính là giới trẻ – một nguồn lực con người vô cùng to lớn.
Cựu Đại sứ Việt Nam tại Áo từng đề nghị tôi làm người hướng dẫn cho sinh viên Việt Nam tại nước tôi. Kể từ đó, thông qua một nhóm Facebook và tiếp xúc cá nhân, tôi chia sẻ thông tin về các cơ hội học tập cho các bạn trẻ Việt Nam. Tôi cũng tổ chức tặng vé hòa nhạc và opera miễn phí để các bạn có thể trực tiếp cảm nhận vì sao Vienna được gọi là thủ đô âm nhạc cổ điển của thế giới. Theo cách đó, tôi đã gặp nhiều bạn trẻ đầy tài năng.
Ví dụ, một sinh viên Việt Nam tại Đại học Y Vienna đang phát triển các mô hình máy tính để dự đoán tác động của dược phẩm. Một ví dụ khác là một sinh viên tại Trung tâm Sinh học Vienna nghiên cứu các cơ chế sinh học trong các loài nấm như Candida auris, có thể mở ra các hướng điều trị mới. Chính những con người như vậy sẽ đưa Việt Nam tiến lên phía trước.
Đáng tiếc là các chương trình trao đổi quốc tế dành cho người Việt Nam tại châu Âu hiện nay vẫn còn quá ít và thiếu kinh phí. Nếu chúng ta muốn xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho Việt Nam, thì không chỉ nói suông mà phải đầu tư tiền bạc thực sự cho tương lai của giới trẻ. Trong bối cảnh ngân sách ở phương Tây cũng đang eo hẹp, cần phải phát triển những mô hình mới. Tôi cho rằng mô hình sinh viên học toàn thời gian truyền thống có thể đã lỗi thời. Ý tưởng của tôi là thuyết phục các doanh nghiệp quốc tế tuyển dụng người trẻ làm việc bán thời gian, để họ vừa tích lũy kinh nghiệm thực tế ở nước ngoài, vừa dùng thu nhập đó để trang trải cho việc học.
Vì vậy, khuyến nghị của tôi là cần huy động thêm nguồn lực cho các chương trình trao đổi sinh viên quốc tế và đầu tư vào những người trẻ Việt Nam tài năng. Tôi tin chắc rằng chính họ sẽ là những nhà vô địch mang lại của cải và thịnh vượng cho tương lai Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!