![]() |
Năm 2023, lực lượng lao động trong ngành năng lượng tái tạo trên thế giới đã đạt 16,2 triệu việc làm, tăng 18% so với năm trước đó. Nếu các nước giữ đúng cam kết tại Hội nghị lần thứ 21 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP21) tại Paris, Pháp, năm 2015, con số này sẽ chạm ngưỡng 30 triệu người vào năm 2030. Một cuộc tái phân bổ vốn, công nghệ và nhân lực đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu với tốc độ chưa từng có. Việt Nam đang ở giữa dòng chảy ấy. Với hơn 3.260 km bờ biển, 19 GW điện Mặt trời đã được lắp đặt - cao nhất Đông Nam Á - và tiềm năng gió ngoài khơi mà Ngân hàng Thế giới ước tính có thể lên tới hàng trăm GW, Việt Nam đang nắm trong tay những lợi thế tự nhiên mà nhiều quốc gia phải ao ước trong phát triển năng lượng tái tạo. Nhưng để biến tiềm năng thành điện trên lưới, Việt Nam cần nhiều yếu tố hơn: vốn, khung pháp lý, nhân lực được đào tạo - và cả những đối tác quốc tế sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm từ những lần vấp ngã.
Vương quốc Anh - quốc gia G7 đầu tiên loại bỏ hoàn toàn điện than, đồng chủ trì cơ chế Quan hệ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) với Việt Nam - là một trong những đối tác như vậy. Trong cuộc trò chuyện mới đây, Đại sứ Anh tại Việt Nam Iain Frew, đã chia sẻ ấn tượng của ông rằng: “Tiềm năng năng lượng của Việt Nam là rất lớn và có hai điểm thực sự nổi bật đối với tôi. Thứ nhất là quy mô tiềm năng này trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Chẳng hạn, về năng lượng Mặt trời, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể khi đưa khoảng 19 gigawatt vào hệ thống. Đồng thời, Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nguồn năng lượng gió dồi dào mà đường bờ biển dài có thể mang lại. Thứ hai, điều khiến tôi đặc biệt ấn tượng là cam kết mạnh mẽ hướng tới quá trình chuyển đổi xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng không vào năm 2050”.
![]() |
![]() |
Để hiểu vì sao Vương quốc Anh đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện năng lượng tái tạo của Việt Nam, cần nhìn lại hành trình mà chính họ đã đi qua. Ngày 7/12/2000, tại cảng Blyth thuộc hạt Northumberland, nước Anh đã khánh thành trang trại điện gió ngoài khơi đầu tiên: hai tua-bin với công suất 2 MW mỗi chiếc. Tổng cộng vỏn vẹn 4 MW, đủ để cấp điện cho khoảng 3.000 hộ gia đình.
Hai mươi lăm năm sau, vào tháng 2/2026, tua-bin GE Haliade-X cuối cùng trong số 95 tua-bin có công suất 13 MW mỗi chiếc đã được lắp đặt tại Dogger Bank A - cách bờ biển Yorkshire 130 km. Chỉ riêng một tua-bin Haliade-X đã có công suất gấp hơn ba lần toàn bộ trang trại Blyth năm xưa. Khi cả ba pha A, B, C của Dogger Bank vận hành đầy đủ, tổng công suất sẽ đạt 3,6 GW, biến nơi đây trở thành trang trại điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới.
Sự bùng nổ này xuất phát từ một loạt quyết định chính sách kéo dài qua nhiều đời chính phủ. Năm 2013, nước Anh đã áp giá sàn carbon, khiến chi phí sản xuất điện than tăng vọt so với các nguồn tái tạo. Năm 2015, chính phủ cam kết loại bỏ điện than trong 10 năm. Năm 2019, cuộc đấu thầu CfD vòng 3 đem về mức giá 39,65 bảng/MWh cho điện gió ngoài khơi, thấp đến mức điện gió trở nên rẻ hơn cả điện khí. Đó là bước ngoặt: điện gió ngoài khơi chính thức trở thành công nghệ phát điện có sức cạnh tranh cao.
Kết quả là vào nửa đêm 30/9/2024, nhà máy điện than cuối cùng tại Ratcliffe-on-Soar, hạt Nottinghamshire, đã ngừng hoạt động. Nước Anh trở thành quốc gia đầu tiên thuộc Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) loại bỏ hoàn toàn điện than sau 142 năm kể từ khi nhà máy điện than đầu tiên trên thế giới ra đời tại London. Tỷ trọng than trong cơ cấu điện đã giảm từ 39 % năm 2012 xuống 1% năm 2023. Trong cùng quãng thời gian, gió và Mặt trời đã tăng từ 6% lên 34%. Hiện nay, điện gió ngoài khơi cung cấp khoảng 17% sản lượng điện của nước Anh.
![]() |
| Nhà máy Ratcliffe-on-Soar, nhà máy điện than cuối cùng của Anh, đóng cửa ngày 30/9/2024, chấm dứt hoàn toàn 142 năm sử dụng điện than kể từ năm 1882. (Nguồn: Liberation) |
Kinh nghiệm ấy trở nên đặc biệt có ý nghĩa khi đặt trong khuôn khổ quan hệ giữa Việt Nam và Vương Quốc Anh. Ngày 29/10/2025, tại Phủ Thủ tướng số 10 phố Downing, Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Keir Starmer đã ký Tuyên bố chung nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, mức cao nhất trong quan hệ song phương. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tới nước Anh sau 12 năm. Ngay ngày hôm sau, Đại sứ Anh tại Việt Nam Iain Frew đã đặt bút ký hai biên bản ghi nhớ: Khuôn khổ Đối tác Năng lượng Sạch Việt-Anh (với Bộ Công Thương) và Đối tác Tài chính Xanh Việt-Anh (với Bộ Tài chính).
Đến cuối năm 2025, Vương quốc Anh có 587 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn 4,46 tỷ USD. Thương mại hai chiều năm 2024 đạt 8,5 tỷ USD, tăng 18% so với năm trước. Hiệp định Thương mại Tự do UKVFTA (hiệu lực từ năm 2021) và việc nước Anh gia nhập Hiệp định CPTPP vào tháng 12 năm 2024 đang tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho giai đoạn hợp tác mới. Khi mức độ tin cậy chính trị được nâng lên, các tập đoàn năng lượng quốc tế lớn có thêm cơ sở để đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam. Đại sứ Frew nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn thấy nhiều hơn các quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam và các công ty quốc tế, bao gồm cả từ Vương quốc Anh, nhằm cùng phát triển các dự án và biến chúng thành hiện thực".
Đại sứ Frew cũng chia sẻ bài học mà ông cho là quan trọng nhất từ hành trình 25 năm của xứ sở sương mù: “Nước Anh đã làm được điều đó nhờ cam kết duy trì xuyên suốt qua nhiều đời chính phủ - Bảo thủ rồi Lao động - đều giữ vững mục tiêu Net Zero. Đó là tại sao chúng tôi có thể loại bỏ điện than chỉ trong 12 năm. Cam kết bền bỉ là điều tạo nên niềm tin của nhà đầu tư”.
![]() |
JETP là một cơ chế tài chính quốc tế được hình thành từ COP26 tại Glasgow, Vương Quốc Anh, năm 2021. Cơ chế này hoạt động theo nguyên tắc: một nhóm các nước phát triển cam kết huy động vốn để hỗ trợ một quốc gia đang phát triển chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch. Khoản vốn cam kết đóng vai trò xúc tác: mỗi USD hỗ trợ kỹ thuật và tài chính ưu đãi được thiết kế để mở khóa thêm nhiều USD khác từ khu vực tư nhân và các ngân hàng phát triển đa phương.
Đến nay, bốn quốc gia đã ký JETP gồm Nam Phi (8,5 tỷ USD, năm 2021), Indonesia (20 tỷ USD, năm 2022), Việt Nam (15,5 tỷ USD, tháng 12/2022) và Senegal (2,7 tỷ USD, năm 2023). Vương quốc Anh và Liên minh châu Âu (EU) đồng chủ trì JETP với Việt Nam, cùng Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Italy, Canada, Nhật Bản, Na Uy và Đan Mạch. Đây là cam kết tài chính đa phương lớn nhất dành cho quá trình chuyển đổi năng lượng tại Việt Nam.
![]() |
Theo Cục Điện lực (Bộ Công Thương), tính đến giữa năm 2025, danh mục đề xuất của Việt Nam đã có 24 dự án với tổng nhu cầu vốn hơn 7 tỷ USD, bao phủ từ thủy điện tích năng, điện gió ngoài khơi đến hạ tầng truyền tải và các trung tâm công nghiệp dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng. Tiến trình triển khai đang được đẩy mạnh, với một số dự án đã bước vào giai đoạn hỗ trợ kỹ thuật và phát triển.
Đại sứ Frew chia sẻ về tiến trình này: “Khoản tiền này nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Những gì chúng tôi đang nỗ lực thực hiện hiện nay là thực sự mở khóa tiềm năng đó. Nguồn vốn được sử dụng để hỗ trợ kỹ thuật nhằm thúc đẩy phát triển các dự án, đồng thời huy động thêm tài chính từ khu vực tư nhân để đầu tư vào các công trình cụ thể. Chúng tôi đã thấy một số bước tiến tích cực với dự án thủy điện tích năng hay sáng kiến quản lý lưới điện thông minh, nhưng thực tế là chúng ta cần tăng tốc mạnh mẽ hơn nữa”.
Nhưng nguồn lực cho chuyển dịch năng lượng không chỉ là tiền. Trong khuôn khổ 11 sáng kiến được công bố tại London cuối tháng 10/2025, nước Anh đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo. Ngân hàng Phát triển Quốc tế Anh (BII) phê duyệt khoản tín dụng xanh 50 triệu USD cho VPBank để mở rộng tài chính khí hậu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhóm Phát triển Hạ tầng Tư nhân (PIDG) cấp 24 triệu USD cho điện Mặt trời áp mái và phương tiện điện, cùng khoản bảo lãnh 47 triệu USD cho trái phiếu xanh đầu tiên trong lĩnh vực nước. Dự án Green Lab hỗ trợ kỹ thuật quản lý lưới điện tích hợp năng lượng tái tạo. Chương trình Tăng tốc Điện gió Ngoài khơi (Offshore Wind Accelerator) được ký kết giữa Đại sứ quán Anh và Bộ Công Thương tháng 5/2025 nhằm chia sẻ kinh nghiệm 25 năm của nước Anh.
Đại sứ Frew nói: “Chúng tôi đã hỗ trợ những sáng kiến đổi mới trong quản lý lưới điện thông qua dự án Green Lab. Đây là nỗ lực giúp giải quyết thách thức khi tích hợp nhiều nguồn năng lượng tái tạo vào hệ thống, bởi có lúc có gió, có lúc có nắng và cũng có lúc không. Đây là vấn đề mà nước Anh đã từng đối mặt và chúng tôi mong muốn chia sẻ kinh nghiệm để giúp Việt Nam tìm ra mô hình cân bằng phù hợp”.
![]() |
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2019 và các nghiên cứu sau đó của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cùng Viện Khí tượng Na Uy, tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam nằm trong khoảng 600-1068 GW. Đường bờ biển dài hơn 3.260 km với Vùng Đặc quyền Kinh tế khoảng 1 triệu km², cùng chế độ gió mùa Đông Bắc ổn định từ tháng 10 đến tháng 4, tạo ra điều kiện tự nhiên rất thuận lợi - đặc biệt tại Vịnh Bắc Bộ và dải biển Bình Thuận - Ninh Thuận với độ sâu dưới 50 mét cho phép sử dụng công nghệ móng cố định, vốn đã được chứng minh hiệu quả tại Biển Bắc.
Vương quốc Anh, dù sở hữu ngành điện gió ngoài khơi đã phát triển hơn một thập kỷ, nhưng công suất lắp đặt hiện nay mới đạt khoảng 15-16 GW. Con số này hiện thực tế chỉ bằng khoảng 10% tiềm năng thực tế của Việt Nam. Đại sứ Frew nhận xét: “Đây là một lĩnh vực giàu tiềm năng đến mức chúng tôi mong được thấy Việt Nam đẩy nhanh các dự án mới”.
Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2025, đã đặt mục tiêu 6.000-17.032 MW điện gió ngoài khơi cho giai đoạn 2030-2035, tầm nhìn dài hạn 113.000-139.097 MW vào năm 2050. Điện Mặt trời nhắm tới 46.459-73.416 MW vào năm 2030, điện gió trên bờ và gần bờ đạt 26.066-38.029 MW cùng mốc thời gian. Tuy nhiên, thực tế hiện tại vẫn cho thấy khoảng cách lớn giữa tiềm năng và hiện trạng. Tính đến cuối quý I năm 2025, theo số liệu từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), năng lượng tái tạo (gió và Mặt trời) chiếm 26% công suất lắp đặt nhưng chỉ đóng góp 16% sản lượng điện. Điện than vẫn chiếm 32,5% công suất và 56,5% sản lượng. Phần lớn hạ tầng truyền tải chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn - hiện tượng cắt giảm công suất tái tạo tại Ninh Thuận và Bình Thuận từ năm 2019 vẫn để lại bài học đắt giá.
![]() |
Khi được hỏi đâu là rào cản lớn nhất hiện nay, Đại sứ Frew đưa ra một đánh giá mà nhiều người trong ngành có lẽ sẽ đồng tình: “Thách thức không nằm ở tham vọng vì tham vọng là có thật. Thậm chí cũng không hẳn nằm ở tài chính, bởi có nhiều nguồn vốn sẵn sàng. Rào cản chính nằm ở việc hoàn thiện khung pháp lý để thu hút đầu tư, cũng như bảo đảm các dự án đạt tới mức độ phát triển đủ chín để có thể triển khai. Khi đầu tư dài hạn vào một dự án điện gió ngoài khơi, cần nhiều năm để xây dựng và nhiều thập kỷ để thu hồi vốn, nhà đầu tư cần biết rõ họ đang đứng ở đâu. Vấn đề kết nối lưới điện và chuỗi cung ứng cũng là những nút thắt cần tháo gỡ”.
Trong năm 2025-2026, Việt Nam đã ban hành liên tiếp một loạt văn bản nhằm tháo gỡ những nút thắt này. Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 25/8/2025) đã khẳng định vai trò của khu vực tư nhân trong an ninh năng lượng. Nghị quyết 253/2025/QH15 của Quốc hội (hiệu lực từ 1/3/2026) tập trung tháo gỡ vướng mắc đầu tư cho các dự án LNG và điện gió ngoài khơi. Quyết định 137 và 138 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao gần 64.000 ha mặt biển cho EVN và PVN khảo sát điện gió ngoài khơi tại Hải Phòng. Trong giai đoạn 2026-2030, các dự án điện gió ngoài khơi thuộc danh mục được Thủ tướng phê duyệt sẽ được giao trực tiếp, trước khi chuyển sang đấu thầu cạnh tranh từ giai đoạn 2031-2035.
Ông Frew cũng khẳng định, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu cho ngành điện gió, nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Chương trình Tăng tốc Điện gió Ngoài khơi mà nước Anh đang triển khai tại Việt Nam nhằm hỗ trợ chính mục tiêu này - giúp doanh nghiệp nội địa nâng cấp năng lực sản xuất và tham gia vào các dự án lớn.
![]() |
Chuyển đổi năng lượng không chỉ liên quan công nghệ hay tài chính mà còn là câu chuyện về con người, đặc biệt là về sự công bằng trong việc phân chia cơ hội. Theo báo cáo Renewable Energy: A Gender Perspective 2025 của IRENA, dựa trên khảo sát 1.421 phản hồi từ 119 quốc gia, phụ nữ chiếm 32% lực lượng lao động ngành năng lượng tái tạo toàn cầu, thấp hơn nhiều so với mức trung bình lao động toàn cầu (43,4%). Khoảng cách rõ nhất nằm ở các vị trí lãnh đạo cấp cao: chỉ 19%. Trong các vị trí STEM là 28%; nghề kỹ thuật chuyên môn như lắp đặt, vận hành máy, xây dựng: 22%. Ở các vị trí hành chính, phụ nữ chiếm 45%. Trong ngành điện gió, tỷ lệ phụ nữ chỉ khoảng 21%.
![]() |
Nước Anh cũng đã đối mặt với thực tế này. Năm 2019, khi Chính phủ và doanh nghiệp ký Thỏa thuận Phát triển Ngành Điện gió (Offshore Wind Sector Deal), tỷ lệ nữ trong ngành chỉ là 16%. Mục tiêu đặt ra là đạt 33% vào năm 2030. Theo Báo cáo Kỹ năng Ngành Điện gió 2025 của RenewableUK, con số hiện nay đã tăng lên 22%, dù đúng hướng nhưng chậm: sáu năm mới tăng được sáu điểm phần trăm.
Tại Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Thị Thanh - Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) - đã trình bày tại Hội thảo MERE 2026 một bộ số liệu đáng chú ý: số lao động nữ trong ngành năng lượng Việt Nam đã tăng từ 18.300 người năm 2012 lên 23.630 người năm 2021, đạt tốc độ bình quân 4,6 %/năm. Tuy nhiên, phần lớn vẫn tập trung ở các vị trí hành chính. Bà Thanh chỉ ra bảy rào cản chính: từ chuẩn mực giới trong lựa chọn nghề nghiệp, chính sách năng lượng thiếu tính đáp ứng giới, hạn chế tiếp cận đào tạo STEM, cho đến khó khăn trong tiếp cận tín dụng, thiếu mạng lưới cố vấn, tỷ lệ đại diện thấp trong các cơ quan ra quyết định và yêu cầu an toàn lao động tại các dự án vùng xa.
![]() |
| Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ là một phần quan trọng của quá trình chuyển dịch năng lượng công bằng. (Nguồn: Global Energy Alliance for People and Planet) |
Điều mà cả Tiến sĩ Vũ Thị Thanh và Đại sứ Frew cùng nhấn mạnh là cách nhìn nhận vai trò của phụ nữ: họ là chủ thể tham gia chuyển dịch, chứ không chỉ là nhóm cần được hỗ trợ. Cuộc chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam được dự báo sẽ tạo ra khoảng 1,61 đến 1,93 triệu việc làm mỗi năm trong lĩnh vực điện. Nếu khung chính sách không lồng ghép bình đẳng giới ngay từ giai đoạn quy hoạch, hàng triệu việc làm xanh ấy có nguy cơ lặp lại những bất bình đẳng vốn đã tồn tại trong các ngành năng lượng truyền thống.
Đại sứ Frew chia sẻ: “Việt Nam thực sự đang ở vị thế thuận lợi để làm tốt điều này ngay từ đầu. Quá trình chuyển đổi năng lượng phải mang tính bao trùm, được thiết kế ngay từ đầu để tính đến những thách thức của việc dịch chuyển. Tôi muốn thấy sự tham gia mạnh mẽ của phụ nữ trong toàn bộ lĩnh vực này thông qua các chương trình học nghề, học bổng, cũng như chính sách tuyển dụng của các doanh nghiệp. Đây không chỉ là thách thức của riêng một ngành, mà là của toàn xã hội”.
![]() |
Năm 2026 đặt Việt Nam trước những lựa chọn có tính định hình cho nhiều thập kỷ tiếp theo. Dòng vốn tỷ USD và tiềm năng 600 Gigawatt đang chờ nhà đầu tư. Hàng triệu người lao động đang chờ những cơ hội việc làm xanh. Giữa tất cả những nguồn lực mà Việt Nam cần huy động bao gồm: tiền, công nghệ, con người, Đại sứ Iain Frew lại chọn nhấn mạnh một “nguồn lực” khác: “Khi nói đến nguồn lực, đúng là chúng ta nghĩ ngay đến tài chính, công nghệ và con người. Việt Nam sẽ cần tất cả những yếu tố đó. Tuy nhiên, đó chưa phải là nguồn lực quan trọng nhất mà tôi nghĩ tới. Theo tôi, yếu tố then chốt chính là sự cam kết. Bất kỳ quốc gia nào đang trải qua quá trình này đều cần một cam kết mạnh mẽ và bền bỉ từ cấp độ chính trị đến doanh nghiệp và toàn xã hội. Chính sự cam kết này sẽ tạo ra niềm tin rằng các dự án sẽ thành công, nhà đầu tư nên rót vốn và người dân nên tham gia để trở thành một phần của quá trình chuyển đổi”.
![]() |
Ở cấp độ quản lý, Nhà nước đã thể hiện quyết tâm chính trị rất rõ nét thông qua việc chủ động kiến tạo các cơ chế mở đường. Khát vọng Net Zero 2050 cùng những định hướng chiến lược từ Quy hoạch Điện VIII và các nỗ lực tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý thời gian qua đã vạch ra một lộ trình vững chắc cho Việt Nam. Nhưng để lộ trình ấy thực sự đi vào đời sống, sự cam kết phải được hiện thực hóa bằng hành động của toàn xã hội. Khi cơ chế đã mở lối, trọng trách giờ đây thuộc về sự dấn thân của khối tư nhân với những quyết định đầu tư dài hạn, sự đồng hành, chia sẻ kinh nghiệm của các tổ chức và sự chuẩn bị nghiêm túc về năng lực, kỹ năng từ chính mỗi người lao động.
Vương quốc Anh đã kiên trì suốt một phần tư thế kỷ để định hình lại toàn bộ hệ thống năng lượng quốc gia. Việt Nam, với lợi thế của nước đi sau, cùng với sự song hành của các đối tác thông qua cơ chế JETP, hoàn toàn có cơ sở để rút ngắn chặng đường đó. Tiềm năng tự nhiên đã được khẳng định, dòng vốn đa phương đã sẵn sàng. Thập kỷ trước mắt không chỉ là một phép thử về năng lực tiếp nhận công nghệ hay tài chính, mà còn là thước đo bản lĩnh thực thi của từng doanh nghiệp, từng tổ chức và mỗi cá nhân trong một quốc gia đang chủ động bước vào kỷ nguyên năng lượng xanh.
Thực hiện: Mai Anh Thư l Thiết kế: Thuỳ Dung