![]() |
| Trực thăng Nhật Bản tham gia tập trận đối phó hải tặc với tàu Philippines. (Nguồn: AP) |
Các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở các vùng biển châu Á, đặc biệt là biển Hoa Đông và Biển Đông - đang gây ra những lo ngại nghiêm trọng về an ninh trong cộng đồng quốc tế. Những tranh chấp ở Biển Đông còn có nguy cơ leo thang thành những xung đột quân sự. Bởi vậy, vấn đề Biển Đông không chỉ liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước ven biển mà còn đặt ra một vấn đề lớn, có thể gây ra cuộc xung đột quân sự trực tiếp, làm xói mòn sự ổn định hiện có và có khả năng đưa khu vực cũng như thế giới rơi vào tình trạng hỗn loạn chưa từng có.
Mối đe dọa trực diện
Nhật Bản có lợi ích tại Biển Đông, vì vậy, Tokyo cũng vô cùng lo ngại khi căng thẳng tại khu vực này leo thang. Trước hết, các hoạt động cải tạo đảo và tăng cường quân sự của Trung Quốc có thể đem lại cho nước này sự kiểm soát chiến lược các tuyến đường giao thông trên biển. Hơn nữa, khả năng leo thang căng thẳng tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ, đồng minh chủ chốt của Nhật Bản, tạo ra mối đe dọa đối với sự ổn định khu vực.
Cụ thể, các hoạt động cải tạo và xây dựng đảo của Trung Quốc kéo dài khoảng 1.750 dặm từ Kênh Bashi/Eo biển Luzon đến Singapore và 1.250 dặm từ Hong Kong đến Brunei. Biển Đông có diện tích lớn hơn Nhật Bản khoảng 9,5 lần và bao gồm khoảng 200 đảo, bãi đá, bãi cạn và bãi ngầm. Có một số quần đảo nổi bật, chẳng hạn như quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và quần đảo Spratly (Trường Sa).
Kể từ năm 2013, Trung Quốc đã bắt đầu cải tạo và tiến hành xây dựng các đảo nhân tạo. Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập) là điểm cốt lõi bao gồm các hoạt động quân sự đầy đủ, đáng chú ý nhất là một đường băng và một cảng nước sâu. Subi Reef (Đá Xubi) và Mischief Reef (Đá Vành Khăn), dài khoảng 125 dặm mỗi đảo, là những hòn đảo nhân tạo khác có đường băng và các cơ sở cảng biển.
Nhật Bản lo sợ rằng bốn hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang bồi đắp có thể có chức năng như những tiền đồn bảo vệ ba hòn đảo chính, có sân bay và các khu vực giám sát trên không, điều này có thể tạo điều kiện cho một vùng nhận dạng phòng không tiềm tàng của Trung Quốc ở Biển Đông. Những hòn đảo nhân tạo này, khi được hoàn thiện đầy đủ, sẽ đem lại cho Trung Quốc chỗ đứng vững chắc ở quần đảo Trường Sa để kiểm soát hầu hết các tuyến đường giao thông trên biển cũng như theo dõi các hoạt động hàng hải và hàng không của nước ngoài.
Hơn nữa, nếu Trung Quốc trong tương lai có lúc nào đó xây dựng thành công một đảo nhân tạo ở bãi cạn Scarborough, sẽ có một tam giác chiến lược nối đảo Woody (Phú Lâm), quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough, sẽ bao gồm hầu hết biển Đông. Ảnh hưởng của tam giác chiến lược này là vô cùng lớn đối với việc lập kế hoạch chiến lược của Mỹ và Nhật Bản và có thể là yếu tố làm thay đổi cuộc chơi trong các quan hệ nước lớn của khu vực.
Với tư cách là một cường quốc, Trung Quốc có mục tiêu quốc gia trở thành một cường quốc hạt nhân có thể so sánh với Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc thiếu máy bay ném bom tầm xa và phụ thuộc vào các lực lượng tên lửa chiến lược của nước này. Trong bối cảnh đó, Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phải duy trì một lực lượng tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) hùng mạnh và bảo vệ lực lượng này trước những khả năng chiến tranh chống tàu ngầm của các kẻ thù tiềm tàng – đặc biệt là lực lượng tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN) của Hải quân Mỹ. Hải quân PLA đã hoàn thành một căn cứ hải quân mới ở Tam Á trên đảo Hải Nam, căn cứ lý tưởng cho việc triển khai lực lượng SSBN của nước này để tuần tra ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Nếu quy mô của lực lượng SSBN của Trung Quốc tăng lên hơn 8 tàu ngầm, Hải quân PLA có thể thiết lập hai hoặc nhiều hơn khu vực tuần tra bằng tàu ngầm ở Ấn Độ Dương hoặc Tây Thái Bình Dương. Hai điểm công kích này có thể phủ bóng đen lên chiến lược hạt nhân và tư thế phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ.
Theo truyền thống, Mỹ không ủng hộ bất kỳ nước cụ thể nào trong tranh chấp lãnh thổ, và lập trường của Chính phủ Mỹ đối với các tranh chấp ở Biển Đông là trung lập. Tuy nhiên, Mỹ đã nhiều lần khẳng định quyền tự do hàng hải là một trong những lợi ích quốc gia then chốt của nước này.
Có hai cách giải thích về tự do hàng hải và chính sách của Washington. Một cách giải thích chấp nhận nguyên tắc đơn giản rằng tự do hàng hải đảm bảo cho hoạt động tự do trên biển của bất kỳ bên nào theo Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1892 (UNCLOS). Cách giải thích thứ hai quan trọng hơn cách giải thích thứ nhất nhưng khó hiểu hơn. Theo quan điểm này, bởi quyền tự do hàng hải là một lợi ích quốc gia của Mỹ, nếu bất kỳ xung đột nào ở Biển Đông được coi là gây phiền nhiễu việc sử dụng biển tự do và an toàn, thì Mỹ, thậm chí có thể không phải là một bên tranh chấp, có thể diễn giải xung đột này là sự xâm phạm lợi ích quốc gia của nước này. Bởi vậy, Mỹ duy trì quyền can thiệp vào bất kỳ xung đột biển nào ở Biển Đông nếu xung đột đó được diễn giải là vi phạm nguyên tắc tự do hàng hải. Bởi vậy, cả trên lý thuyết lẫn thực tiễn, để bảo vệ những lợi ích quốc gia của Mỹ, Mỹ có thể can thiệp vào xung đột khu vực Biển Đông.
Điều chỉnh chiến lược an ninh
Chiến lược an ninh của Nhật Bản trước khi Chiến tranh Lạnh kết thúc chỉ được tập trung vào việc bảo vệ Nhật Bản theo nghĩa hẹp. Điều này có nghĩa là theo Hiến pháp hòa bình của nước này, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) đã bị hạn chế nghiêm ngặt trong việc chống lại sự xâm lược của quân đội nước ngoài vào Nhật Bản. Bất kỳ cuộc tấn công phòng ngừa hay phản công nào vào đất nước của kẻ thù được coi là vi hiến.
Sau Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản dần dần mở rộng vai trò của JSDF bằng việc thông qua đạo luật mới song vẫn dựa vào cách giải thích tương tự về Hiến pháp hòa bình. Việc JSDF sử dụng vũ lực bị cấm hoàn toàn trong bất kỳ sứ mệnh nước ngoài nào. Trong bối cảnh này, JSDF chỉ có thể tiến hành các hoạt động quân sự với tư cách là một lực lượng vũ trang thực sự trong việc phòng vệ lãnh thổ và không phận của Nhật Bản cũng như các vùng biển xung quanh tới 1.000 hải lý tính từ Nhật Bản.
Bởi vậy, khó mà tìm thấy một lý do hợp lý cho việc triển khai JSDF với khả năng quân sự đầy đủ đối với các vụ việc ở Biển Đông. Tuy nhiên, các đơn vị của JSDF có thể được triển khai cho các sứ mệnh khác ngoài bảo vệ tổ quốc như giám sát, hỗ trợ hậu cần, trợ giúp nhân đạo, cứu trợ thiên tai, các chuyến thăm cảng, huấn luyện và diễn tập hỗn hợp.
Luật an ninh mới của Nhật Bản từ tháng 9/2015 lần đầu tiên đem lại cho Chính phủ những sự lựa chọn rộng hơn đối với các vụ việc an ninh liên quan đến Nhật Bản theo Hiến pháp hiện hành. Theo luật mới, về lý thuyết, một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào các lực lượng đồng minh và các hành động thách thức chủ quyền quốc gia của Nhật Bản, gây nguy hiểm cho sự ổn định cơ bản của nước này đều có thể là đối tượng để Nhật Bản thực hiện quyền phòng vệ tập thể.
Những chi tiết theo đạo luật mới này vẫn chưa được công bố, nhưng rõ ràng là khả năng các hoạt động quân sự của JSDF ở Biển Đông theo chính sách mới sẽ trở nên lớn hơn so với trước đây. Đồng thời, việc duy trì sự hiện diện của các lực lượng Mỹ trong khu vực là yếu tố cốt lõi của chiến lược an ninh của Nhật Bản.
![]() |
| Nhật Bản công bố tàu sân bay trực thăng mới Izumo. (Nguồn: AP) |
Chủ động và mạnh dạn hợp tác
Chính phủ Nhật Bản đã nhanh chóng xác định các hành động của Trung Quốc là vi phạm UNCLOS và coi chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông là một nỗ lực nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực. Nhật Bản cũng ủng hộ lập trường của Mỹ đối với các hành động phiêu lưu, mạo hiểm và quyết đoán của Trung Quốc ở vùng biển này. Bất chấp những giới hạn quân sự của nước này, Nhật Bản có thể tiến hành một số hành động nhằm góp phần tạo ra sự ổn định ở Biển Đông.
Thứ nhất, Nhật Bản có thể giúp xây dựng khả năng cho các quốc gia ven biển ở Đông Nam Á như chuyển giao các tàu tuần tra phi quân sự và đào tạo nhân viên thực thi pháp luật biển.
Thứ hai, Nhật Bản, với tư cách là đối tác đồng minh chủ chốt của Mỹ, cần phải hỗ trợ các lực lượng Mỹ nhằm đảm bảo hòa bình khu vực. Nhật Bản cần phải có hành động rõ ràng để hỗ trợ hoạt động tự do hàng hải. Nhật Bản có thể thực hiện các hoạt động tự do hàng hải một cách tự nhiên và bày tỏ rõ ràng quan điểm của mình dựa trên UNCLOS. Bên cạnh đó, Tokyo cũng nên thúc đẩy hơn nữa các cuộc diễn tập song phương và đa phương với quân đội các nước Đông Nam Á ven biển như Australia, Indonesia, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei và Philippines. Những cuộc diễn tập này sẽ cải thiện nhanh chóng và thực chất các mối quan hệ giữa hải quân các nước và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau nhằm phối hợp hoạt động để cho Bắc Kinh thấy rằng Tokyo hay Washington sẵn sàng đáp trả bất kỳ hành động phiêu lưu mạo hiểm nào của Bắc Kinh trong khu vực.

