![]() |
| Thầy Vũ Dương Huân trong Lễ kỷ niệm 60 năm ký Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ngày 20/7/2014. |
Tình yêu lớn dần
Thực ra lúc đầu tôi không “khoái” lắm với nghề giáo, tôi cũng không có ý định về trường Đại học Ngoại giao (nay là Học viện Ngoại giao). Tuy nhiên, tình yêu đối với nghề lớn dần theo năm tháng. Tôi trở thành người thầy cũng đơn giản bằng một chữ “duyên”, Thầy Huân tâm sự.
Tháng 11/1973, sau khi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Sử tại Liên Xô (cũ), tôi được Bộ Ngoại giao tuyển dụng và được phân công về Vụ Nghiên cứu - Tư liệu. Nhiệm vụ của Vụ là khai thác tư liệu phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Tôi bắt đầu làm quen với công việc và cũng bắt đầu thích nghề đó. Tuy nhiên, do không phải tốt nghiệp ngành ngoại giao, mặt khác lại tốt nghiệp ở nước ngoài, không có thực tiễn đối ngoại của Việt Nam nên tôi đi học một khóa bổ túc nghiệp vụ ngoại giao (khóa II) tại trường Đại học Ngoại giao.
Năm 1975, kết thúc khóa học cũng là lúc nhà trường chiêu sinh khóa 10 để đào tạo đội ngũ cán bộ mới vừa tốt nghiệp phổ thông, do đó, tôi được điều động về trường Đại học Ngoại giao, công tác tại Bộ môn Lịch sử quan hệ quốc tế và Chính sách đối ngoại Việt Nam. Thời đó, thầy Đào Huy Ngọc làm chủ nhiệm Bộ môn và thầy Nguyễn Khải phụ trách các bộ môn cơ bản.
Khi ấy, tôi chỉ là trợ giảng, hướng dẫn sinh viên trong các giờ thảo luận và dần tham gia chuẩn bị bài giảng.
Tiết dạy đầu tiên của tôi là về Lịch sử quan hệ quốc tế ở khu vực Trung Đông sau Thế chiến II. Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác đầu tiên vừa run vừa hồi hộp ấy. Trước mắt tôi là rất nhiều sinh viên, tuy nói là tốt nghiệp phổ thông nhưng họ phần nhiều đã trải qua quân ngũ. Tôi lo “sinh viên già” sẽ hỏi và thắc mắc nhiều mà kiến thức mình còn non thì khó mà ứng phó kịp. Kết thúc giờ giảng, tôi thấy sinh viên thời đó cũng rất hiền!.
Tôi gắn bó phần nhiều của 41 năm trong nghề ngoại giao tại Học viện. Nơi đây tôi đã chứng kiến nhiều thế hệ sinh viên trưởng thành, có những người sau này trở thành đồng nghiệp của tôi, cũng có những sinh viên làm ngành nghề khác… Năm tháng trôi, tôi cũng già đi và điều làm tôi hạnh phúc nhất là nhiều chuyến đò tôi cầm lái đã cập bến thành công. Mỗi chuyến đò là một hành trình, một câu chuyện dài, một kỷ niệm tôi khắc ghi vào trong mái đầu dần bạc…
Giờ đây, tuy đã về hưu nhưng tình yêu nghề trở thành tâm huyết, thôi thúc tôi tiếp tục đóng góp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đối ngoại của Học viện Ngoại giao, nhất là khi bản thân đã được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị và có bề dày thực tiễn công tác đối ngoại.
Hai nghề trong một
Là một nhà giáo, từ giảng viên rồi Phó Giám đốc, Giám đốc Học viên Quan hệ quốc tế nhưng tôi cũng là một cán bộ ngoại giao, ba lần làm Trưởng Cơ quan đại diện: Đại sứ tại Ba Lan (1995-1998), Đại sứ tại Ukraine (2002-2006) và Tổng Lãnh sự tại Viễn Đông, Liên bang Nga (2009-2012).
Được trải nghiệm hai vị trí khác nhau với tôi đó vừa là may mắn lại vừa là thử thách. Đối mặt với các cô cậu học trò đâu giống như đối mặt với các vị nguyên thủ quốc gia và các vấn đề trực tiếp liên quan đến lợi ích quốc gia, dân tộc tại nước sở tại.
Tuy vậy, xét một cách tổng thể tôi thấy hai nghề này cũng có những điểm khá giống nhau. Trước hết, nghề nào cũng cần kiến thức sâu rộng, nhà giáo phải biết mười giảng một, còn nhà ngoại giao phải có kiến thức tổng hợp, kiến thức Đông Tây kim cổ… Hơn nữa, cả hai nghề đều cần phải mô phạm, đàng hoàng, vì các em sinh viên và vì dân tộc. Thêm vào đó, ở cả hai cương vị đều cần nhuần nhuyễn các kỹ năng như nói, viết, trình bày và lắng nghe…
Còn về sự khác biệt thì nhà ngoại giao cần sự dứt khoát, thực tế, linh hoạt, trong khi đó, nhà giáo dễ bị cái “kinh viện” ảnh hưởng, giống như sự khác nhau giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu động thái vậy. Nhà giáo thường trình bày vấn đề một cách hấp dẫn, có thể đôi chút vòng vo qua lại nhưng nhà ngọai giao cần đi thẳng vào bản chất vấn đề, tác động và đối sách. Đó là hai cách tư duy khác nhau và cần phải biết kết hợp hài hòa chúng.
Phạm Hằng (ghi)
