![]() |
| Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia. |
Công tác biên giới lãnh thổ là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chỉ đạo sát sao qua từng thời kỳ lịch sử. Dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao này, kể từ khi được thành lập, UBBGQG đã có những đóng góp đáng ghi nhận vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia.
Xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định trên đất liền
Sau nhiều nỗ lực đàm phán phân định, triển khai phân giới cắm mốc trên thực địa, Việt Nam và Trung Quốc đã xác định đường biên giới rõ ràng và giải quyết ổn thỏa các sự việc phát sinh trên tuyến biên giới đất liền. Từ năm 1974, Việt Nam và Trung Quốc đã bắt đầu triển khai đàm phán về biên giới trên bộ. Ngày 30/12/1999, hai bên đã ký Hiệp ước về biên giới, đặt một mốc son lịch sử trong quan hệ giữa hai nước, giải quyết xong trên văn bản bất đồng về biên giới và là cơ sở pháp lý vững chắc để xác định đường biên giới trên thực địa.
![]() |
| Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền trao đổi bút sau khi ký Hiệp ước ngày 30/12/1999. |
Sau hàng trăm vòng đàm phán các cấp, các đợt khảo sát đơn phương và song phương trên thực địa, ngày 31/12/2008, hai bên đã tuyên bố hoàn thành công tác phân giới cắm mốc. Đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc được đánh dấu bởi hệ thống mốc quốc giới hiện đại, khoảng cách giữa các mốc tương đối dày với 1971 cột mốc trên 1.450km đường biên giới. Trong quá trình phân giới cắm mốc trên thực địa có ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 17 đồng chí bị thương do vướng bom, mìn, bị sét đánh khi đang thi hành nhiệm vụ.
Ngày 18/11/2009, hai bên ký ba văn kiện: Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền kết thúc toàn bộ quá trình đàm phán, xây dựng đường biên giới giữa hai nước. Kể từ năm 2010 đến nay, UBBGQG đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và địa phương bảy tỉnh biên giới phía Bắc cùng phía Trung Quốc tiến hành quản lý tốt đường biên giới theo văn kiện mới, thường xuyên giáo dục nhân dân tuân thủ chấp hành quy định về quản lý và bảo vệ đường biên, giải quyết tốt các sự vụ xảy ra trên biên giới, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế khu vực hai bên biên giới, góp phần giữ vững an ninh, bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.
Hiện Việt Nam và Trung Quốc đã cơ bản thống nhất toàn bộ nội dung dự thảo Hiệp định tàu thuyền đi lại tại khu vực tự do đi lại ở cửa sông Bắc Luân, Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc và chuẩn bị Lễ ký hai Hiệp định vào cuối năm 2015 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho việc phát triển kinh tế khu vực hai bên biên giới.
Với Lào, ta đã hoàn thành việc xác định đường biên giới, tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới,tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quản lý biên giới và phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực biên giới giữa hai nước.
Với chiều dài trên 2.340 km, đường biên giới Việt Nam - Lào là đường biên giới trên đất liền dài nhất của Việt Nam với một quốc gia láng giềng. Ngày 18/7/1977, hai bên đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia và đến năm 1987 đã cơ bản hoàn thành phân giới toàn bộ đường biên giới hai nước trên thực địa và cắm được 214 cột mốc tại 199 vị trí mốc. Trong giai đoạn này, đã có 11 cán bộ chiến sỹ hy sinh ở thực địa do bị lũ quét và sạt lở núi.
Từ năm 1995 - 2004, hai bên phối hợp thực hiện và hoàn thành Dự án thành lập bộ bản đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào và trong quá trình thực hiện Dự án đã giải quyết xong 18 khu vực còn tồn đọng trong giai đoạn phân giới cắm mốc 1978- 1987 là những khu vực còn nhiều bom mìn, địa hình hiểm trở.
Hai bên cũng đã giải quyết xong vị trí điểm khởi đầu và điểm cuối của đường biên giới hai nước, ký Hiệp ước xác định giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc ngày 10/10/2006, ký Hiệp ước xác định giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia ngày 26/8/2008. Đặc biệt, từ năm 2008, hai bên phối hợp thực hiện Kế hoạch Tổng thể tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào. Đến nay, hai bên đã xây dựng được 834 cột mốc tại 792 vị trí mốc và 168 cọc dấu tại 113 vị trí, chính thức hoàn thành toàn bộ công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên thực địa với tổng số 1.002 công trình mốc giới chính quy, hiện đại trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. Hai bên đã tiến hành đàm phán hai văn kiện pháp lý quan trọng: Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào và Hiệp định (mới) về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào, dự kiến hoàn thành trong năm 2015.
Đồng thời, từ cuối năm 2013 đến nay, hai bên đã hoàn thành công tác chuẩn bị và bắt đầu triển khai các nội dung cụ thể thực hiện Thỏa thuận giữa hai Chính phủ về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới Việt Nam - Lào góp phần duy trì sự ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực biên giới giữa hai nước, tăng cường, củng cố mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào.
Với Campuchia, ta đã tích cực xây dựng phương án và đàm phán giải quyết vấn đề biên giới để đi đến ký kết Hiệp định về Vùng nước lịch sử (7/7/1982), Hiệp ước nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới (20/7/1983), Hiệp định về Quy chế biên giới (20/7/1983), Hiệp ước về Hoạch định biên giới (27/12/1985).
Thực hiện Hiệp ước năm 1985, từ năm 1986 đến năm 1988, hai bên phân giới được trên 200 km đường biên giới và cắm được 72 cột mốc trên thực địa. Sau nhiều năm kiên trì đàm phán, ngày 10/10/2005, ta đã ký với Campuchia Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985. Việc ký kết và thực hiện Hiệp ước bổ sung 2005 có ý nghĩa to lớn: Khẳng định giá trị pháp lý của Hiệp ước 1985, tạo điều kiện cho việc khởi động lại tiến trình phân giới cắm mốc trên thực địa, góp phần giữ vững an ninh chính trị, củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác phát triển giữa hai nước.
Từ cuối năm 2006, công tác phân giới cắm mốc chính thức được triển khai đồng loạt trên toàn tuyến.
Đến nay, hai bên đã hoàn thành được khoảng hơn 80% khối lượng công việc phân giới cắm mốc trên thực địa (xây dựng được 307/371 cột mốc, phân giới được 919/1.137 km đường biên giới), trong đó đã cắm được mốc giới ở hầu hết các điểm quan trọng trên biên giới như nơi có cửa khẩu, nơi có đường giao thông cắt qua biên giới, nơi có dân cư tập trung sinh sống và canh tác, đặc biệt là đã cắm được cột mốc ở ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia và mốc số 314 là mốc ở vị trí cuối cùng của đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia.
Về quản lý biên giới, hai bên phối hợp triển khai Hiệp định về quy chế biên giới năm 1983 và Thông cáo báo chí ngày 17/1/1995, kịp thời ngăn chặn, xử lý các vụ việc xảy ra trong khu vực biên giới.
Bảo vệ chủ quyền trên biển
Xác định rõ tầm quan trọng của biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, UBBGQG đã chủ trì đàm phán và ký kết Hiệp ước về Vùng nước lịch sử với Campuchia năm 1982, Thỏa thuận về khai thác một phần vùng chồng lấn với Malaysia năm 1992, Hiệp định phân định ranh giới biển với Thái Lan năm 1997, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc năm 2000, Hiệp định phân định thềm lục địa với Indonesia năm 2003... Hiện UBBGQG đang tiếp tục đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, phân định biển với Campuchia, phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia, hợp tác khai thác chung dầu khí ở vùng chồng lấn thềm lục địa của Việt Nam - Thái Lan - Malaysia và Việt Nam - Malaysia.
Trong bối cảnh diễn biến phức tạp trên Biển Đông, UBBGQG đã chủ động xây dựng Đề án, tham mưu cho Lãnh đạo các cấp, kiên trì lập trường đi đến ký kết Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc nhân dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc (tháng 10/2011).
Ủy ban cũng đã cùng các Bộ, ngành hữu quan chuẩn bị phương án và đàm phán xác định và giành lại quyền điều hành vùng thông báo bay (FIR) Hồ Chí Minh;nghiên cứu, đề xuất việc vận dụng Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đối với việc nước ngoài đặt cáp ngầm trên vùng thềm lục địa Việt Nam, nghiên cứu khoa học biển tại vùng biển Việt Nam; chủ động tích cực tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biên giới lãnh thổ, nhất là về quản lý vùng biển, thềm lục địa với các cơ sở nghiên cứu nước ngoài, các học giả quốc tế.
Đặc biệt, tháng 5/2009, Ủy ban đã chủ trì, hoàn thành và đệ trình trước thời hạn Báo cáo chung với Malaysia và Báo cáo quốc gia về xác định Ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam vượt quá 200 hải lý lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc, được dư luận đánh giá cao.
Ủy ban đã chủ trì và hoàn tất việc soạn thảo và trình ban hành Luật Biển Việt Nam, được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIII (21/6/2012), tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ chủ quyền, đồng thời giúp cộng đồng quốc tế thấy rõ thiện chí và chính sách đúng đắn của Việt Nam trên lĩnh vực biển.
Đứng trước việc Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động trên tất cả các lĩnh vực nhằm khẳng định yêu sách chủ quyền phi lý trên Biển Đông (đặc biệt là các vụ: cắt cáp tàu, hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 sâu trong vùng biển Việt Nam, mời thầu chín lô dầu khí trong vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xây dựng cải tạo các đảo đá tại quần đảo Trường Sa...), UBBGQG đã đề xuất các biện pháp ứng phó đúng đắn, đồng bộ và kịp thời, đấu tranh kiên quyết, có lý có tình, vừa bảo vệ được chủ quyền và lợi ích của ta, vừa giữ ổn định quan hệ của ta và các nước liên quan.
Chú trọng công tác tuyên truyền
Nắm chắc nhu cầu thông tin của dư luận, UBBGQG đã chủ động cung cấp thông tin chính thống, cập nhật chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như kết quả giải quyết vấn đề biên giới đất liền và trên biển, đồng thời thường xuyên có các bài viết và trả lời phỏng vấn, tham gia các buổi họp báo quốc tế về công tác biên giới lãnh thổ nhằm bác bỏ các thông tin sai trái trên các trang mạng và truyền thông; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đoàn thể tổ chức hàng trăm buổi nói chuyện chuyên đề về kết quả, ý nghĩa hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền với Trung Quốc, Lào, Campuchia cũng như kịp thời thông tin về tình hình và kết quả giải quyết các vấn đề liên quan đến Biển Đông.
Bên cạnh đó, UBBGQG cũng chủ trì và phối hợp với các cơ quan biên soạn, thẩm định và xuất bản các ẩn phẩm về biên giới lãnh thổ bằng nhiều hình thức như sách, tờ rơi, đĩa DVD bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đặc biệt, Ủy ban luôn duy trì, cập nhật thông tin lên trang Thông tin điện tử về biên giới lãnh thổ (www.biengioilanhtho.gov.vn) phản ánh trung thực, khách quan, toàn diện về các vấn đề liên quan đến biên giới, biển, đảo mà dư luận quan tâm, góp phần tạo đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.
***
Nhìn lại chặng đường 40 năm qua, UBBGQG tự hào đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tạo dựng được một hệ thống đường biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không có giá trị pháp lý quốc tế cao, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tôn trọng. Đồng thời, góp phần đắc lực vào công cuộc đấu tranh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
![]() |
| Tháng 11/2010, Ủy ban Biên giới Quốc gia tổ chức kỷ niệm 35 năm Ngày thành lập (6/10/1975-6/10/2010) và đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động. |
Tuy nhiên, những khó khăn, thách thức trong việc tiếp tục giải quyết dứt điểm các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn tại giữa Việt Nam và các nước láng giềng còn rất nhiều, đặc biệt, trong bối cảnh những diễn biến phức tạp trên Biển Đông trong thời gian qua.
Nhằm tạo môi trường hòa bình, hữu nghị, thuận lợi cho xây dựng và phát triển đất nước, UBBGQG sẽ kiên trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, giải quyết hòa bình các tranh chấp về biên giới lãnh thổ, biển đảo trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, chủ trì cùng các bộ, ngành liên quan thúc đẩy đàm phán giải quyết các vấn đề trên biển với Trung Quốc cũng như với các nước liên quan. Đồng thời, cùng các nước ASEAN và Trung Quốc tích cực hợp tác triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đàm phán để sớm thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); cùng cộng đồng quốc tế hợp tác nhằm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải ở khu vực Biển Đông.
UBBGQG cũng sẽ chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan theo dõi sát diễn biến tình hình Biển Đông, kịp thời tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo các cấp các biện pháp xử lý thích hợp; kiên quyết giữ vững chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, đồng thời duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và duy trì quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng.
Ngày 20/2/1959: Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết thành lập Ban Biên giới để giúp Trung ương Đảng theo dõi, chỉ đạo công tác biên giới, nghiên cứu và kiến nghị những chính sách, biện pháp cụ thể giải quyết vấn đề biên giới. Ngày 6/10/1975: Chính phủ ban hành Nghị định 188/CP thành lập Ban Biên giới của Hội đồng Bộ trưởng, tiền thân của Ban Biên giới của Chính phủ và nay là Ủy ban Biên giới quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao. Ngày 06/10 hàng năm được lấy làm ngày kỷ niệm thành lập Ủy ban Biên giới quốc gia. Ngày 8/5/1993: Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định 21/CP quy định Ban Biên giới của Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ và là cơ quan trực thuộc Chính phủ. Từ ngày 17/10/2001: Ban Biên giới của Chính phủ chuyển về trực thuộc Bộ Ngoại giao (tương đương đơn vị cấp Tổng cục) theo Quyết định số 157/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hiện Ủy ban có gần 100 cán bộ công chức và nhân viên, do 1 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao làm Chủ nhiệm với 6 đơn vị trực thuộc. Do có những thành tích xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, UBBGQG đã Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Lao động các hạng: hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Năm 2010, UBBGQG đã đón nhận Danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động. Năm 2015, Ủy ban vinh dự đón nhận Danh hiệu Huân chương Hồ Chí Minh.
Hồ Xuân Sơn


