Kỳ I: Từ quyết sách lịch sử đến bước ngoặt mang tầm thời đại
Kỳ II: Những thành tựu làm nên tầm vóc, những bài học soi đường tương lai
Kỳ III: Tiếp nối bản lĩnh Đổi mới, vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của Tổ quốc Việt Nam
***
Kỳ I:
Từ quyết sách lịch sử đến bước ngoặt mang tầm thời đại
Đổi mới không chỉ là một lựa chọn mang tính chiến lược mà còn là đòi hỏi khách quan, sống còn của dân tộc trong bước ngoặt lịch sử của thời đại.
Bốn mươi năm trước, trước những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn cách mạng và khát vọng vươn lên của dân tộc, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước — một quyết sách lịch sử mang tầm vóc thời đại. Từ tư duy “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI của Đảng đã mở ra bước ngoặt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển đất nước, đưa Việt Nam vượt qua khủng hoảng, từng bước hội nhập với thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc gia hôm nay.
Bốn thập kỷ nhìn lại là một hành trình đầy thử thách nhưng cũng hết sức vẻ vang của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và bị bao vây, cấm vận kéo dài, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành nền kinh tế có quy mô thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN, là đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó không chỉ khẳng định tính đúng đắn của đường lối Đổi mới, mà còn thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước những bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc.
Khi đất nước đứng trước yêu cầu đổi mới mang tính sống còn
Sau ngày đất nước thống nhất, nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với khát vọng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, đưa đất nước tiến lên giàu mạnh. Tuy nhiên, trong điều kiện xuất phát điểm thấp, hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, cùng với những hạn chế trong nhận thức và cơ chế quản lý kinh tế, đất nước nhanh chóng rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng trì trệ nghiêm trọng. Sản xuất kém phát triển, lưu thông hàng hóa ách tắc, năng suất lao động thấp, thiếu hụt lương thực diễn ra ở nhiều nơi. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ hàng loạt hạn chế, triệt tiêu động lực sáng tạo và sức sản xuất của xã hội. Lạm phát tăng cao ở mức phi mã; riêng năm 1986, lạm phát lên tới hơn 700%. Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, nhiều cán bộ, công nhân, viên chức phải chật vật lo từng bữa ăn, từng mét vải.
Trong khi đó, bối cảnh quốc tế cũng diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, xu thế mở cửa, hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở nhiều nước bộc lộ những bất cập lớn. Những biến động của tình hình thế giới đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy phát triển, đổi mới phương thức lãnh đạo và tổ chức nền kinh tế phù hợp quy luật khách quan. Thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc đó đòi hỏi phải có một quyết sách mang tính lịch sử. Đó không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là yêu cầu mang tính sống còn đối với chế độ và tương lai dân tộc. Trong bước ngoặt đặc biệt ấy, Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng khí cách mạng và tinh thần trách nhiệm lớn lao trước nhân dân và đất nước.
Đại hội VI – dấu son mở đường cho hành trình Đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, diễn ra vào tháng 12/1986, đã đi vào lịch sử như một cột mốc đặc biệt quan trọng của cách mạng Việt Nam hiện đại. Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội; đồng thời đề ra đường lối Đổi mới toàn diện đất nước. Đó là một quyết định thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng trước những yêu cầu khách quan của lịch sử. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là đổi mới tư duy, phương thức và bước đi để thực hiện hiệu quả hơn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng không phải là sự lựa chọn mang tính tình thế, mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới.
Trong bước ngoặt có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã thể hiện sức sống mạnh mẽ của một Đảng cách mạng chân chính, luôn biết lắng nghe thực tiễn, xuất phát từ lợi ích của nhân dân để hoạch định đường lối phát triển phù hợp với quy luật của thời đại. Từ đổi mới tư duy kinh tế đến đổi mới cơ chế quản lý, từ phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, tất cả đều thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và nhất quán vì lợi ích của quốc gia - dân tộc. Những chủ trương lớn được triển khai sau Đại hội VI nhanh chóng tạo ra chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Khoán 10 trong nông nghiệp đã giải phóng sức sản xuất, đưa Việt Nam từ tình trạng thiếu lương thực triền miên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Khu vực kinh tế tư nhân từng bước được thừa nhận và khuyến khích phát triển. Các thành phần kinh tế được tạo điều kiện phát huy tiềm năng, đóng góp cho tăng trưởng và giải quyết việc làm.,Thực tiễn sinh động của công cuộc Đổi mới đã chứng minh một chân lý lớn: mọi đường lối, chủ trương đúng đắn chỉ có thể bắt nguồn từ thực tiễn, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa công cuộc Đổi mới đi tới thành công.
![]() |
| Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Nguồn: (Ảnh tư liệu báo Quân đội Nhân dân) |
Từ phá thế bao vây, cấm vận đến hội nhập sâu rộng với thế giới
Một trong những dấu ấn nổi bật của công cuộc Đổi mới là việc Việt Nam từng bước phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.
Năm 1994, Mỹ chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam kéo dài gần hai thập kỷ. Một năm sau, hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, mở ra chương mới trong quan hệ song phương. Cũng trong năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Từ chỗ bị cô lập về kinh tế và ngoại giao, Việt Nam từng bước mở rộng quan hệ với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia; có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều cường quốc và trung tâm kinh tế lớn. Việt Nam cũng tham gia và ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP…, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng và hội nhập. Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đánh dấu bước hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu. Đây không chỉ là thành tựu về kinh tế, mà còn khẳng định uy tín và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm ký Tuyên bố kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN năm 19952. (Nguồn: Trần Sơn/ TTXVN) |
Đặc biệt, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong gần bốn thập kỷ qua không đơn thuần là mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại, mà còn là quá trình khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, kiên cường vượt qua khó khăn để phát triển. Từ chỗ phải đối mặt với bao vây, cấm vận và thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực phát triển, Việt Nam đã chủ động tham gia vào các dòng chảy lớn của nền kinh tế thế giới, từng bước khẳng định vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với tiến trình mở cửa, môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước liên tục được cải thiện. Hàng chục nghìn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã hiện diện tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất, tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Nếu như năm 1986, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ đạt khoảng 2,9 tỷ USD, đến năm 2025, con số này đã vượt mốc 780 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn hàng đầu thế giới.
Việt Nam ngày nay không chỉ tham gia tích cực vào các thiết chế khu vực và toàn cầu, mà còn đóng góp ngày càng quan trọng vào giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế như gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển bền vững. Nhiều sáng kiến, đề xuất của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, thể hiện hình ảnh một quốc gia năng động, có trách nhiệm và ngày càng có uy tín. Cùng với tiến trình hội nhập, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam liên tục gia tăng. Nếu năm 1988, Việt Nam mới bắt đầu thu hút những dự án FDI đầu tiên, đến hết năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký lũy kế đạt hàng trăm tỷ USD, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.
Đằng sau những con số và dấu mốc ấy là cả một quá trình đổi mới tư duy đối ngoại, kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Một dân tộc từng bị cô lập đã vươn mình trở thành đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chỉ tích cực tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, mà còn đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN, tổ chức Hội nghị cấp cao APEC, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều…
Đổi mới – lựa chọn mang tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam
Nhìn lại 40 năm, có thể khẳng định rằng Đổi mới là quyết định mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc của Đảng và dân tộc Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong những năm đầu Đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào thời kỳ phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn và hội nhập sâu rộng hơn. Từ một nền kinh tế khép kín, quy mô nhỏ bé, với GDP bình quân đầu người chỉ khoảng hơn 100 USD vào cuối thập niên 80, Việt Nam hiện đã trở thành nền kinh tế có quy mô hơn 430 tỷ USD, thuộc nhóm 35 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh; hàng chục triệu người dân thoát nghèo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện.
![]() |
| Tuần lễ APEC 2017. (Nguồn: Báo Tiền Phong) |
Quan trọng hơn, công cuộc Đổi mới đã củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện và thực tiễn của Việt Nam. Đổi mới nhưng không đổi màu; hội nhập nhưng không hòa tan; phát triển kinh tế đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm quốc phòng - an ninh và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc - đó là những bài học lớn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Thực tiễn 40 năm Đổi mới cũng cho thấy, mọi thành công của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đồng thời không ngừng đổi mới sáng tạo, chủ động thích ứng với những biến đổi của tình hình thế giới. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề và chịu bao vây, cấm vận kéo dài, Việt Nam đã từng bước vươn lên mạnh mẽ, mở ra một thời kỳ phát triển mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc.
Những thành quả vĩ đại đã nêu chính là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng; đồng thời khẳng định Đổi mới là quyết định mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc. Bước vào giai đoạn phát triển mới, thành tựu của gần bốn thập kỷ Đổi mới tiếp tục tạo thế và lực để đất nước ta vững bước trên con đường xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
***
Kỳ II:
Những thành tựu làm nên tầm vóc, những bài học soi đường tương lai
Từ những thành tựu có ý nghĩa lịch sử sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đang vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Bốn thập kỷ Đổi mới là một trong những chặng đường phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam hiện đại. Từ một nền kinh tế khép kín, nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và bao vây, cấm vận, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực. Những đổi thay sâu sắc về quy mô nền kinh tế, chất lượng tăng trưởng, đời sống nhân dân, năng lực hội nhập quốc tế, quốc phòng, an ninh và vị thế quốc gia đã khẳng định sức sống mãnh liệt của đường lối Đổi mới; đồng thời minh chứng hùng hồn cho bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc dẫn dắt dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không ngừng vươn tới những tầm cao phát triển mới.
Nhìn lại chặng đường gần bốn thập kỷ qua, càng thấy rõ hơn giá trị bền vững của quyết sách lịch sử khởi nguồn từ Đại hội VI của Đảng. Điều từng được xem là một bước đi đột phá về tư duy năm 1986, hôm nay đã được thực tiễn kiểm chứng qua những thành quả phát triển toàn diện của đất nước. Đổi mới không chỉ giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi nguồn lực phát triển, mà còn giải phóng sức sáng tạo của hàng triệu người Việt Nam; mở ra một thời kỳ phát triển năng động, hội nhập và đổi mới không ngừng. Điều lớn nhất mà công cuộc Đổi mới mang lại không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế hay những con số thống kê ấn tượng, mà còn là sự củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, ý chí tự cường và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, những thành tựu đạt được sau gần 40 năm Đổi mới tiếp tục tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; khát vọng phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, thu nhập cao ngày càng được hiện thực hóa bằng những quyết sách chiến lược, những bước đi chủ động, sáng tạo và quyết liệt. Đó chính là nền tảng vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
![]() |
| Nhà máy lọc dầu Dung Quất. (Nguồn: VnEconomy) |
Những thành tựu mang ý nghĩa lịch sử
Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế chưa bao giờ lớn mạnh như hôm nay
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng kiến nhiều bước ngoặt lớn mang tính quyết định đối với vận mệnh đất nước. Trong dòng chảy ấy, công cuộc Đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt, mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Gần bốn thập kỷ nhìn lại, thực tiễn đã chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối Đổi mới; đồng thời khẳng định một chân lý sâu sắc: mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, từ việc luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mọi chủ trương, chính sách. Từ một nền kinh tế có quy mô rất nhỏ bé với GDP chỉ khoảng 26 tỷ USD vào năm 1986, đến năm 2025, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã đạt trên 476 tỷ USD, đứng trong nhóm hơn 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới và thuộc nhóm 5 nền kinh tế lớn nhất ASEAN. GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD vào những năm đầu Đổi Mới lên xấp xỉ 4.700 USD. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm liên tục thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới, tạo nền tảng quan trọng để nâng cao tiềm lực quốc gia và cải thiện toàn diện đời sống của nhân dân.
![]() |
| (Nguồn ảnh: Báo Thanh Niên) |
Đặc biệt, thành tựu nổi bật của công cuộc Đổi mới không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà còn thể hiện ở chất lượng phát triển và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động lớn của khu vực và thế giới. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu trải qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch COVID-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và những đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, giữ vững niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư quốc tế và các tổ chức tài chính toàn cầu. Đây là thành quả có ý nghĩa chiến lược, phản ánh năng lực lãnh đạo, điều hành ngày càng bản lĩnh, chủ động và linh hoạt của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh mới.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển con người đã đạt được những thành tựu được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Nếu như đầu những năm 1990, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn ở mức rất cao, thì đến nay, tỷ lệ nghèo đa chiều đã giảm xuống chỉ còn dưới 2%, hàng chục triệu người dân đã thoát nghèo, trở thành một trong những quốc gia thực hiện thành công nhất các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Thành quả ấy không chỉ phản ánh sự phát triển của nền kinh tế mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, nơi mọi thành quả phát triển đều hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Diện mạo đất nước cũng có sự thay đổi căn bản. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh chóng với hàng nghìn ki-lô-mét đường cao tốc, nhiều cảng biển nước sâu, cảng hàng không quốc tế, các trung tâm logistics, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, đô thị hiện đại được hình thành trên khắp mọi miền đất nước. Hạ tầng số phát triển mạnh mẽ; chuyển đổi số quốc gia được triển khai đồng bộ trên cả ba trụ cột là chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, tạo động lực mới cho tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo từng bước trở thành động lực quan trọng của phát triển; kinh tế số đóng góp ngày càng lớn vào GDP; nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường khu vực và quốc tế.
Song song với phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ vững chắc; môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước được giữ gìn. Đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng trở thành điểm sáng nổi bật của Việt Nam. Đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế lớn của thế giới; tham gia sâu rộng vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, ký kết 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 nền kinh tế, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 vượt mốc 780 tỷ USD, thuộc nhóm các nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới. Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đóng góp thiết thực vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển bền vững.
Những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử đó đã tạo nên diện mạo mới, tầm vóc mới và vị thế mới của đất nước. Đó là kết quả của sự kết tinh giữa ý chí quật cường của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong gần bốn thập kỷ Đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi sinh thời từng khẳng định, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.” Đó không chỉ là sự tổng kết một chặng đường phát triển, mà còn là sự khẳng định đầy tự hào về sức mạnh của một dân tộc biết vượt qua thử thách, biết biến khát vọng thành hành động và biến những quyết sách đúng đắn của Đảng thành những thành tựu mang tầm vóc lịch sử.
Đổi mới – bài học lớn về bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam
Gần bốn mươi năm Đổi mới không chỉ để lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, mà còn đúc kết nên những bài học lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, trở thành tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc. Đó là những bài học được đánh đổi bằng cả quá trình tìm tòi, đổi mới tư duy, bằng sự kiên trì vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách; được kiểm nghiệm qua thực tiễn sinh động của gần bốn thập kỷ phát triển đất nước. Trong bối cảnh thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng, sâu sắc và khó lường, những bài học ấy không hề cũ đi mà tiếp tục tỏa sáng giá trị, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành trình đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Trước hết, thực tiễn Đổi mới tiếp tục khẳng định một chân lý có ý nghĩa xuyên suốt: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta; là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Suốt gần bốn mươi năm qua, mặc dù tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, mô hình phát triển của nhiều quốc gia thay đổi, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, song Việt Nam vẫn kiên định con đường đã lựa chọn; đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước. Chính sự kiên định về mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt trong phương thức thực hiện đã tạo nên sức mạnh đặc biệt của công cuộc Đổi mới. Đó không phải sự bảo thủ, càng không phải sự trì trệ, mà là bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng luôn biết giữ vững những nguyên tắc cốt lõi, đồng thời chủ động thích ứng với yêu cầu phát triển của thời đại.
Bài học lớn thứ hai được thực tiễn khẳng định là mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều phải xuất phát từ cuộc sống, lấy Nhân dân làm trung tâm, là chủ thể và mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Chính tư duy “lấy dân làm gốc”, coi hạnh phúc của Nhân dân là thước đo của mọi chính sách đã tạo nên sức sống mạnh mẽ của công cuộc Đổi mới. Mỗi quyết sách lớn của Đảng trong gần bốn thập kỷ qua, từ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đều hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển. Thực tiễn xóa đói, giảm nghèo, mở rộng hệ thống an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, phát triển hạ tầng, chăm lo các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo... là minh chứng sinh động cho bản chất tốt đẹp của chế độ ta và cũng là nguồn gốc tạo nên niềm tin bền chặt của Nhân dân đối với Đảng.
Bài học thứ ba là biết kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực là quyết định, tranh thủ ngoại lực là quan trọng, tạo nên động lực tổng hợp cho sự phát triển của đất nước. Đổi mới không đồng nghĩa với khép kín; hội nhập cũng không đồng nghĩa với hòa tan. Trong suốt chặng đường phát triển vừa qua, Đảng ta luôn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Chính nhờ biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời tận dụng hiệu quả những thành tựu của khoa học-công nghệ, dòng vốn đầu tư, tri thức quản trị và xu thế hợp tác toàn cầu, Việt Nam đã từng bước chuyển hóa thời cơ thành nguồn lực phát triển, đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Đây tiếp tục là bài học có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu rộng.
Bài học thứ tư là đổi mới sáng tạo nhưng luôn giữ vững các nguyên tắc chiến lược. Đây là nét đặc sắc trong tư duy lãnh đạo của Đảng trong suốt gần 40 năm qua. Đổi mới chưa bao giờ được hiểu là thay đổi mục tiêu, càng không phải phủ nhận những giá trị nền tảng đã được lịch sử lựa chọn. Đổi mới là đổi mới tư duy, đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới cơ chế, chính sách và phương pháp tổ chức thực hiện để giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực phát triển đất nước. Chính nhờ sự kết hợp hài hòa giữa kiên định và đổi mới, giữa nguyên tắc và sáng tạo, giữa kế thừa và phát triển, Đảng ta đã từng bước tháo gỡ những “điểm nghẽn” của quá trình phát triển, đưa đất nước vượt qua nhiều thời điểm đặc biệt khó khăn, từ khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh đến những biến động địa chính trị và kinh tế toàn cầu. Bài học ấy hôm nay càng có ý nghĩa sâu sắc hơn khi khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số và kinh tế xanh đang làm thay đổi căn bản mô hình phát triển của thế giới.
Quan trọng hơn cả, thực tiễn gần bốn mươi năm Đổi mới tiếp tục khẳng định rằng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Mọi thành tựu phát triển của đất nước đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; mọi bước tiến của công cuộc Đổi mới đều bắt nguồn từ việc không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được triển khai đồng bộ, quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt nhiều kết quả quan trọng; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng tiếp tục được củng cố. Thực tiễn đó một lần nữa khẳng định rằng xây dựng Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt mà còn là điều kiện tiên quyết để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia.
Năm bài học lớn được đúc kết từ thực tiễn Đổi mới không chỉ là sự tổng kết của một giai đoạn phát triển, mà còn là những định hướng chiến lược cho tương lai. Đó là kết tinh của bản lĩnh chính trị, trí tuệ Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những thời cơ và thách thức đan xen, những bài học ấy càng cần được tiếp tục vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với yêu cầu mới, để mỗi bước đi của đất nước đều vững chắc hơn, tự tin hơn và giàu khát vọng hơn trên con đường hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.
***
Kỳ III:
Tiếp nối bản lĩnh Đổi mới, vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của Tổ quốc Việt Nam
Tiếp tục Đổi mới – mệnh lệnh của thời đại
Lịch sử phát triển của các quốc gia cũng cho thấy không có thành tựu nào là bất biến, không có lợi thế nào có thể tồn tại mãi nếu thiếu động lực đổi mới và khát vọng vươn lên. Điều làm nên tầm vóc của Đổi mới không chỉ nằm ở những thành quả đã đạt được, mà còn ở tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích của quốc gia và hạnh phúc của Nhân dân. Chính tinh thần ấy phải tiếp tục được khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn phát triển mới, khi đất nước đang đứng trước cả những thời cơ lớn chưa từng có và những thách thức chưa từng có. Bước vào thập niên thứ năm của công cuộc Đổi mới, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để bứt phá, song cũng phải đối mặt với những yêu cầu phát triển ngày càng cao trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Những thành tựu của hôm nay là nền tảng quan trọng, nhưng không phải là điểm dừng. Trái lại, đó chính là điểm khởi đầu cho một hành trình phát triển với tầm nhìn cao hơn, mục tiêu lớn hơn và khát vọng mạnh mẽ hơn. Bởi lẽ, đối với một dân tộc luôn khát khao vươn lên, Đổi mới chưa bao giờ là nhiệm vụ của một giai đoạn, mà là mệnh lệnh phát triển xuyên suốt của thời đại.
![]() |
| Phối cảnh tổng thể trục cảnh quan đại lộ Sông Hồng. (Nguồn: VnEconomy) |
Bối cảnh thế giới hiện nay đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xu hướng bảo hộ thương mại, phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, an ninh phi truyền thống và những bất ổn địa chính trị đang tạo ra nhiều sức ép chưa từng có đối với các nền kinh tế đang phát triển. Đồng thời, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, công nghệ bán dẫn và kinh tế số, đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình quản trị và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Những quốc gia chậm thích ứng sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn trong cuộc đua phát triển.
Đối với Việt Nam, sau gần bốn thập kỷ Đổi mới, bên cạnh những thành tựu rất đáng tự hào, vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế cần tiếp tục khắc phục. Chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách so với nhiều quốc gia phát triển trong khu vực; khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; năng lực tự chủ của nền kinh tế còn chịu tác động lớn từ những biến động bên ngoài; quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tuy đạt nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn đứng trước yêu cầu phải tăng tốc mạnh mẽ hơn nữa. Đặc biệt, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn là một thách thức hiện hữu nếu đất nước không tạo được những đột phá mới về thể chế, nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và năng suất lao động.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh công cuộc Đổi mới với tư duy và tầm nhìn mới. Đổi mới trong giai đoạn hiện nay không chỉ là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế như những năm đầu sau Đại hội VI, mà là đổi mới toàn diện mô hình phát triển quốc gia; lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; lấy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số làm không gian tăng trưởng mới; lấy cải cách thể chế làm khâu đột phá; lấy phát triển con người và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nền tảng bền vững của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn nữa đối với bộ máy quản trị quốc gia, hệ thống pháp luật, môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ càng trở nên cấp thiết. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, chủ động nắm bắt thời cơ, kịp thời tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong phát triển, khơi thông mọi nguồn lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Chỉ có tiếp tục cải cách với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt và khát vọng vươn lên mạnh mẽ mới có thể tạo ra những động lực phát triển mới cho đất nước trong những thập niên tới.
Lịch sử gần bốn mươi năm Đổi mới đã chứng minh rằng, mỗi bước phát triển của đất nước đều gắn liền với những quyết sách đổi mới mang tính đột phá của Đảng. Hôm nay, trước yêu cầu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, tinh thần ấy càng cần được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong thế giới biến động nhanh chóng, chậm đổi mới đồng nghĩa với tụt hậu; thiếu khát vọng sẽ khó tạo ra bước phát triển đột phá. Đó không chỉ là lời nhắc nhở từ thực tiễn phát triển của đất nước, mà còn là mệnh lệnh của thời đại đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên hành trình tiếp tục viết nên những kỳ tích mới của Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới: Khơi dậy khát vọng hùng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Gần bốn thập kỷ Đổi mới đã tạo dựng cho đất nước một nền tảng phát triển vững chắc chưa từng có trong lịch sử hiện đại. Tuy nhiên, chặng đường phía trước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục phát huy cao độ bản lĩnh chính trị, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Những thành tựu đã đạt được là niềm tự hào, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn và toàn diện hơn để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước hết, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục là yêu cầu có tính nguyên tắc, là nền tảng tư tưởng và định hướng chiến lược bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thực tiễn gần bốn mươi năm Đổi mới đã khẳng định, sự kiên định đó không hề mâu thuẫn với đổi mới sáng tạo, mà chính là điều kiện để Đảng ta chủ động đổi mới tư duy, hoàn thiện mô hình phát triển và vận dụng sáng tạo các quy luật của kinh tế thị trường trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn là nhân tố bảo đảm để đất nước phát triển đúng hướng, giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài.
Cùng với đó, yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển tiếp tục được đặt ra với tính cấp thiết chưa từng có. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng quyết liệt, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà đã trở thành lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển theo hướng hiện đại, minh bạch, ổn định, thông thoáng, khơi thông mọi nguồn lực xã hội, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các động lực tăng trưởng mới. Tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh và cùng đóng góp vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng một lần nữa khẳng định rằng mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Bởi vậy, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện tiếp tục là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thực sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Đó không chỉ là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà còn là điều kiện tiên quyết để lãnh đạo thành công sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế. Muốn bứt phá, Việt Nam không thể tiếp tục phát triển chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên, mà phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đầu tư cho khoa học-công nghệ chính là đầu tư cho tương lai; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là đầu tư cho năng lực cạnh tranh quốc gia; xây dựng nền kinh tế số, xã hội số, chính phủ số và công dân số là yêu cầu tất yếu để đất nước không chỉ theo kịp mà còn từng bước vươn lên cùng các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực nội sinh của toàn xã hội, thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ quản trị quốc gia, sản xuất kinh doanh đến giáo dục, y tế, văn hóa và từng người dân.
Quan trọng hơn cả, mọi chủ trương, đường lối đúng đắn chỉ có thể trở thành hiện thực khi được kết tinh thành sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, mỗi thắng lợi của dân tộc đều là kết quả của sự đồng lòng, chung sức, đồng tâm hiệp lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bước vào giai đoạn phát triển mới, sức mạnh ấy càng cần được phát huy mạnh mẽ hơn nữa trên cơ sở củng cố niềm tin xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần cống hiến, ý chí tự cường và khát vọng phát triển trong mọi tầng lớp nhân dân. Mỗi người Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều là một chủ thể của sự phát triển, đều có trách nhiệm và cơ hội đóng góp vào hành trình xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh.
Niềm tin vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới
Bốn mươi năm Đổi mới đã chứng minh một chân lý sâu sắc: khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi khát vọng phát triển được hun đúc thành ý chí và hành động của cả dân tộc, không có khó khăn nào không thể vượt qua, không có mục tiêu nào không thể chinh phục. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong gần bốn thập kỷ qua là nền tảng, là động lực và cũng là niềm tin vững chắc để đất nước tiếp tục tiến lên mạnh mẽ trên con đường phát triển nhanh và bền vững. Đó không chỉ là thành quả của quá trình đổi mới tư duy, hoàn thiện đường lối phát triển và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, mà trước hết là minh chứng sinh động cho bản lĩnh chính trị, trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong mỗi bước ngoặt của lịch sử dân tộc. Thực tiễn gần bốn mươi năm qua càng khẳng định sâu sắc rằng, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, từ việc luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
![]() |
| Khối hồng kỳ A50. (Ảnh: Nguyệt Hà) |
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, phía trước còn nhiều thời cơ lớn đan xen với không ít khó khăn, thách thức. Song, với bản lĩnh đã được tôi luyện qua lịch sử, với trí tuệ được kết tinh từ gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng của Đảng, với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng vươn lên mãnh liệt của hàng triệu người Việt Nam, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát huy bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhất định sẽ tiếp tục viết nên những kỳ tích phát triển mới, hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, phồn vinh và hạnh phúc”, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam.
| Fairfax – BIDV – BIC: Củng cố hợp tác chiến lược sau hơn một thập kỷ đồng hành Sự đồng hành giữa BIDV, Fairfax và BIC đã góp phần quan trọng thúc đẩy BIC phát triển cả về quy mô và hiệu quả ... |
| BIDV và Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai hợp tác trồng 240.000 cây xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long Tính đến nay, chương trình trồng 1 triệu cây xanh của BIDV đã đạt được những kết quả tích cực với hơn 760.000 cây xanh ... |
| Tăng cường năng lực viết chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp Ngày 15/4, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị tập huấn chuyên đề “Kỹ năng và định hướng sáng tác tác phẩm dự thi ... |






