Kỳ I: Ba nghị quyết lớn và sự thay đổi trong tư duy lý luận của Đảng
Kỳ II: Đảng bộ BIDV lãnh đạo toàn hệ thống triển khai hiệu quả ba nghị quyết lớn của Bộ Chính trị
***
Lời mở đầu
Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được mở ra bằng những quyết sách mang tầm chiến lược. Có những Nghị quyết đưa ra định hướng phát triển cho một ngành, một lĩnh vực; cũng có những Nghị quyết mở ra một cách tiếp cận hoàn toàn mới về mô hình tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhưng điều quan trọng hơn cả không chỉ dừng lại ở nội dung của Nghị quyết mà còn ở cách Nghị quyết được hiện thực hóa trong đời sống.
Trước bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, cùng với khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, ba Nghị quyết số 57-NQ/TW, 68-NQ/TW và 79-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là những Nghị quyết lớn mang tính cốt lõi, tạo nền tảng chiến lược cho quá trình phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam. Mỗi Nghị quyết tập trung vào một động lực phát triển quan trọng: Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược; Nghị quyết 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; Nghị quyết 79- NQ/TW nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, đồng thời yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này. Ba Nghị quyết có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành hệ thống chủ trương thống nhất nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực của đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, qua đó hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng và trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045
Là định chế tài chính hàng đầu Việt Nam với lịch sử gần 70 năm đồng hành cùng đất nước, BIDV luôn xác định việc thực hiện các chủ trương của Đảng không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là động lực để đổi mới và phát triển. Trong hành trình ấy, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ BIDV chính là nhân tố quyết định, bảo đảm mọi chủ trương lớn của đất nước đều được cụ thể hóa thành chương trình hành động, thành những sản phẩm số, quy trình quản trị hiện đại mang lại giá trị thiết thực phục vụ khách hàng, doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế. Sức sống của Nghị quyết không nằm ở những trang văn bản mà ở khả năng tổ chức thực hiện. Và tại BIDV, hành trình hiện thực hóa 3 Nghị quyết này chính là minh chứng sinh động cho vai trò hạt nhân lãnh đạo của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp, góp phần xây dựng một ngân hàng hiện đại, số hóa, phát triển bền vững và đồng hành cùng khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Kỳ I:
Ba nghị quyết lớn và sự thay đổi trong tư duy lý luận của Đảng
Bối cảnh lịch sử kinh tế và yêu cầu đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đứng trước một bối cảnh mang tính bước ngoặt của thời đại. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với tốc độ nhanh, phạm vi rộng và tác động sâu sắc chưa từng có trong lịch sử phát triển của nhân loại. Cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chỉ dựa trên tài nguyên thiên nhiên hay chi phí lao động mà đã chuyển sang cạnh tranh về thể chế, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực quản trị quốc gia. Quốc gia nào nắm bắt công nghệ sớm hơn, tổ chức được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả và chuyển đổi số nhanh hơn sẽ có lợi thế vượt trội trong phát triển.
Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội tuy nhiên, tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên; năng suất lao động chưa cao; năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế; chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng trong khi yêu cầu phát triển giai đoạn mới đặt ra ngày càng cao, đòi hỏi Đảng phải ban hành những chủ trương mới nhằm tạo động lực phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn và xu thế của thời đại. Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng, động lực chủ yếu của tăng trưởng trong giai đoạn mới, Nghị quyết 57-NQ/TW thể hiện sự thay đổi trong nhận thức khi coi tri thức, công nghệ và dữ liệu là nguồn lực chiến lược, ngang tầm với các nguồn lực truyền thống như vốn, đất đai và lao động. Điều này phù hợp với xu thế của kinh tế số và kinh tế tri thức trên thế giới, đồng thời tạo tiền đề để Việt Nam nâng cao năng suất lao động, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết 68-NQ/TW mở ra cách nhìn mới về vai trò của kinh tế tư nhân khi coi đó là một trong những động lực quan trọng nhất của tăng trưởng. Đảng khẳng định cần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, bình đẳng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, khuyến khích đổi mới sáng tạo và hình thành đội ngũ doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế. Đây là bước chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy đồng hành, hỗ trợ và kiến tạo sự phát triển cho doanh nghiệp. Bên cạnh việc phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, Đảng cũng nhận thấy yêu cầu tiếp tục đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước để đáp ứng nhiệm vụ phát triển trong giai đoạn mới. Vì vậy, Nghị quyết 79-NQ/TW được ban hành, khẳng định vai trò chủ đạo của khu vực này trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Ba Nghị quyết có nội dung khác nhau nhưng thống nhất về mục tiêu chiến lược. Các Nghị quyết không chỉ giải quyết những hạn chế của mô hình tăng trưởng hiện nay mà còn tạo nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển bền vững. Đồng thời, đây cũng là minh chứng cho sự đổi mới tư duy của Đảng trong việc nhận diện các động lực phát triển mới, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển
Nghị quyết 57-NQ/TW đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư mà còn trở thành động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Điểm cốt lõi của Nghị quyết là sự chuyển dịch từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang “phát triển dựa trên công nghệ”. Lần đầu tiên, Đảng xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực đột phá quan trọng hàng đầu của phát triển đất nước, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu. Chuyển đổi số giúp thay đổi căn bản phương thức quản lý, điều hành và vận hành của nền kinh tế. Nhờ ứng dụng công nghệ số, các hoạt động sản xuất kinh doanh được tự động hóa, quy trình làm việc được tối ưu hóa, chi phí vận hành được giảm thiểu và năng suất lao động được nâng cao đáng kể. Đối với khu vực công, chuyển đổi số góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số tạo điều kiện mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và gia tăng khả năng cạnh tranh. Nền kinh tế số đang hình thành với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, tài chính số, ngân hàng số, giáo dục số, y tế số và nhiều lĩnh vực khác. Những mô hình này không chỉ tạo ra giá trị gia tăng lớn mà còn góp phần thay đổi cách thức con người làm việc, học tập, giao tiếp và tiêu dùng. Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW cho thấy quyết tâm chính trị rất cao trong việc đưa chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ hiện đại.
![]() |
| Đại diện Ban Lãnh đạo BIDV và 189 chi nhánh đã ký cam kết điện tử quyết tâm nỗ lực triển khai chiến dịch chuyển đổi số nền khách hàng BIDV thành công |
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định dữ liệu là nguồn tài nguyên mới và là yếu tố đầu vào quan trọng của nền kinh tế số, đồng thời là cơ sở để phát triển trí tuệ nhân tạo, phân tích dự báo, tự động hóa và ra quyết định chính xác. Dữ liệu rất quan trọng, nhưng con người vẫn là chủ thể sáng tạo, làm chủ và khai thác hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ. Vì vậy, Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư công nghệ và lực lượng lao động có kỹ năng số. Đây không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài nhằm tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững cho quốc gia trong tương lai. Đổi mới sáng tạo không chỉ giới hạn trong hoạt động nghiên cứu khoa học hay phát minh công nghệ mà còn bao gồm việc cải tiến mô hình quản trị, quy trình sản xuất, phương thức kinh doanh, chất lượng dịch vụ và trải nghiệm khách hàng. Đây là quá trình liên tục tạo ra các giá trị mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội. Có thể khẳng định, Nghị quyết 57-NQ/TW thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy tri thức, sáng tạo và công nghệ làm nguồn lực chủ yếu cho sự phát triển của đất nước.
Khoa học công nghệ là đột phá chiến lược
Ở một khía cạnh khác, Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học và công nghệ là đột phá chiến lược hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đây là sự kế thừa và phát triển tư duy của Đảng về vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phản ánh xu thế phát triển của thế giới khi khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là yếu tố quyết định sức mạnh của mỗi quốc gia, cũng thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Điều này đòi hỏi phải có những cơ chế, chính sách vượt trội nhằm khuyến khích nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thu hút và trọng dụng nhân tài, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh quốc tế. Công nghệ mới giúp tự động hóa các quy trình sản xuất, giảm chi phí, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất truyền thống, tạo ra các mô hình kinh doanh mới và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu. Thế nhưng để khoa học và công nghệ thực sự trở thành đột phá chiến lược, cần có những giải pháp đồng bộ về thể chế, nguồn lực và tổ chức thực hiện, tăng tỷ lệ đầu tư cho khoa học và công nghệ từ cả ngân sách Nhà nước và khu vực doanh nghiệp, coi đây là khoản đầu tư cho phát triển lâu dài chứ không phải chi phí ngắn hạn. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, xây dựng các trung tâm nghiên cứu mạnh, thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Đối với doanh nghiệp, khoa học và công nghệ cần được xem là yếu tố cốt lõi trong chiến lược phát triển. Doanh nghiệp phải chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, tăng cường hợp tác với các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các kết quả nghiên cứu khoa học sẽ nhanh chóng được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Việc xác định khoa học và công nghệ là đột phá chiến lược không chỉ phản ánh xu thế phát triển của thế giới mà còn thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng đối với con đường phát triển của đất nước. Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước hay các cơ sở nghiên cứu mà còn cần có sự tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ trí thức. Chỉ khi khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng của mọi hoạt động phát triển, Việt Nam mới có thể tận dụng cơ hội và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Hoàn thiện thể chế, khơi thông động lực phát triển và đánh thức khát vọng cống hiến
Trước đây, kinh tế tư nhân được nhìn nhận như một thành phần kinh tế quan trọng, nhưng Nghị quyết 68-NQ/TW xác định đây là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, để khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế tư nhân theo hướng hiện đại, minh bạch, đồng bộ và phù hợp với các quy luật của nền kinh tế thị trường. Việc cải cách thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn hiện hữu mà còn mở đường cho những mô hình phát triển mới, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, ổn định và có khả năng dự báo cao, từ đó củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với đường lối lãnh đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước. Khi đó, nguồn lực xã hội sẽ được khơi thông, tinh thần khởi nghiệp được lan tỏa và khát vọng làm giàu chính đáng sẽ trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
![]() |
| Sản xuất các sản phẩm ống nhựa tại Nhà máy của Tập đoàn Hoa Sen. |
Điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết 68-NQ/TW là tư duy phát triển dựa trên việc huy động và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội, giải phóng các nguồn lực đang bị kìm hãm và biến chúng thành động lực cho sự phát triển. Đây là sự kế thừa nhất quán quan điểm của Đảng về việc lấy nội lực làm cơ bản, chiến lược, lâu dài; đồng thời kết hợp hài hòa với các nguồn lực bên ngoài để tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển của đất nước. Nghị quyết 68-NQ/TW khẳng định mạnh mẽ vai trò của đội ngũ doanh nhân và cộng đồng doanh nghiệp trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây không chỉ là sự ghi nhận những đóng góp to lớn của khu vực kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế mà còn là thông điệp chính trị sâu sắc về việc phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, mỗi doanh nhân là một chiến sĩ trên mặt trận kinh tế. Khi doanh nghiệp phát triển, nền kinh tế có thêm việc làm, ngân sách có thêm nguồn thu, đời sống nhân dân được nâng cao và sức mạnh quốc gia được củng cố. Vì vậy, khơi thông động lực phát triển doanh nghiệp không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chiến lược gắn liền với sự hưng thịnh của quốc gia.
Nghị quyết 68-NQ/TW mở ra một không gian phát triển mới cho doanh nghiệp Việt bằng việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Đây là những yếu tố đặc biệt quan trọng để hình thành một thế hệ doanh nhân Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khát vọng cống hiến và có năng lực cạnh tranh quốc tế. Sâu xa hơn, Nghị quyết hướng tới khơi dậy tinh thần yêu nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh; biến khát vọng làm giàu của mỗi cá nhân thành động lực phát triển của đất nước; kết hợp hài hòa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích quốc gia, dân tộc. Khi hàng triệu doanh nhân, doanh nghiệp cùng chung khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, đó sẽ là nguồn sức mạnh to lớn giúp Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức và vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Có thể khẳng định rằng Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân. Từ vốn, đất đai, khoa học công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực đến các cơ hội đầu tư, tất cả đều phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch và bình đẳng. Điều đó không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của toàn xã hội.
Thống nhất trong tư duy và hành động về phát triển kinh tế Nhà nước
Điểm mới quan trọng của Nghị quyết 79-NQ/TW là cách tiếp cận kinh tế Nhà nước theo nghĩa rộng, bao gồm không chỉ doanh nghiệp Nhà nước mà còn toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ và quản lý như vốn, đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng và các quỹ tài chính công. Điều này thể hiện tư duy quản trị hiện đại, coi Nhà nước không chỉ là chủ thể sở hữu mà còn là chủ thể kiến tạo, điều tiết và định hướng sự phát triển. Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không đồng nghĩa với việc bao cấp hay thay thế mà ngược lại, kinh tế Nhà nước phải đóng vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng và môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cùng phát triển. Kinh tế Nhà nước cần phát huy vai trò dẫn dắt thông qua đầu tư vào các lĩnh vực then chốt, phát triển kết cấu hạ tầng, hình thành chuỗi liên kết sản xuất và thúc đẩy hợp tác công – tư. Điều này thể hiện tư duy phát triển hiện đại, coi các thành phần kinh tế là những bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò định hướng và hỗ trợ nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế.
![]() |
| Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển. |
Nhiều năm qua, doanh nghiệp Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, đầu tư phát triển hạ tầng và thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn tồn tại những hạn chế như hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, năng lực cạnh tranh còn hạn chế, cơ chế quản trị chậm đổi mới và tình trạng thất thoát, lãng phí ở một số đơn vị. Để khắc phục những tồn tại đó, Nghị quyết yêu cầu doanh nghiệp Nhà nước phải đổi mới phương thức quản trị theo chuẩn mực quốc tế, lấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Các doanh nghiệp cần tăng cường công khai, minh bạch tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình, và ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, có năng lực lãnh đạo và tinh thần đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Nghị quyết 79-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực thuộc sở hữu Nhà nước như vốn, tài sản công, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và hệ thống kết cấu hạ tầng, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng mục tiêu và có trọng tâm, trọng điểm. Song song, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm phòng ngừa thất thoát, lãng phí và tham nhũng trong quản lý tài sản công. Khi các nguồn lực được sử dụng hiệu quả, sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Ý nghĩa sâu sắc của Nghị quyết 79-NQ/TW còn thể hiện ở việc tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển. Thay vì chỉ tập trung vào việc kiểm soát các hoạt động kinh tế, Đảng yêu cầu xây dựng một Nhà nước kiến tạo phát triển, có khả năng hoạch định chiến lược, phân bổ hiệu quả nguồn lực, kiến tạo môi trường thuận lợi và nâng cao chất lượng thể chế, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn cao và tư duy quản trị hiện đại. Người đứng đầu phải dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời có khả năng thích ứng với môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, khi chất lượng thể chế và năng lực quản trị quốc gia ngày càng trở thành yếu tố quyết định đến sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tạo lập hành lang để triển khai hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế Nhà nước
Một trong những hạn chế lớn của khu vực kinh tế Nhà nước những năm qua là sự thiếu đồng bộ giữa chủ trương và quá trình tổ chức thực hiện; một số cơ chế quản lý còn chồng chéo, phân cấp chưa rõ ràng, việc khai thác và sử dụng nguồn lực công chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Nghị quyết 79-NQ/TW đã trực diện nhận diện những điểm nghẽn này và yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, Nghị quyết mở ra không gian phát triển mới khi yêu cầu tiếp tục đổi mới mô hình quản trị theo chuẩn mực hiện đại, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng đội ngũ lãnh đạo có năng lực quản trị tiên tiến. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời hoàn thiện cơ chế đánh giá khách quan để phân biệt giữa rủi ro trong đổi mới và các hành vi vi phạm do vụ lợi. Đây là một bước đột phá về tư duy quản lý, góp phần giải phóng tâm lý e ngại trách nhiệm, khuyến khích tinh thần đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị trong khu vực kinh tế nhà nước. Đối với các địa phương, Nghị quyết tạo điều kiện để chủ động khai thác hiệu quả các nguồn lực về đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng và tài sản công theo nguyên tắc thị trường, gắn với yêu cầu phát triển bền vững và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Điều này giúp các địa phương phát huy lợi thế riêng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời bảo đảm sự thống nhất trong quản lý và điều hành trên phạm vi cả nước. Nghị quyết 79-NQ/TW không chỉ là văn kiện định hướng phát triển kinh tế Nhà nước mà còn là khuôn khổ hành động thống nhất cho toàn hệ thống chính trị. Thông qua việc hoàn thiện các chủ trương lớn của Đảng và tạo hành lang thuận lợi cho tổ chức thực hiện, Nghị quyết góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực Nhà nước, phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
***
Kỳ II:
Đảng bộ BIDV lãnh đạo toàn hệ thống triển khai hiệu quả ba nghị quyết lớn của Bộ Chính trị
Mối quan hệ giữa ba Nghị quyết và yêu cầu đặt ra đối với Đảng bộ BIDV
Ba Nghị quyết 57-NQ/TW, 68-NQ/TW và 79-NQ/TW không tồn tại độc lập mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong tư duy phát triển của Đảng, tác động qua lại và trở thành các trụ cột chính của chiến lược phát triển quốc gia. Ba trụ cột bổ sung cho nhau, hình thành cấu trúc phát triển cân bằng giữa Nhà nước – thị trường – xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với Đảng bộ BIDV, việc nghiên cứu và quán triệt đầy đủ mối quan hệ giữa ba Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi BIDV vừa là một định chế tài chính giữ vai trò chủ lực trong hệ thống tài chính – ngân hàng, vừa là tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung ứng vốn và dịch vụ tài chính cho mọi thành phần kinh tế, đồng thời là đơn vị tiên phong trong đổi mới công nghệ và chuyển đổi số của ngành ngân hàng.
Trước hết, BIDV phải phát huy vai trò của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam thông qua việc sử dụng hiệu quả vốn, bảo đảm an toàn hệ thống, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh theo các chuẩn mực quản trị hiện đại. Là ngân hàng có quy mô lớn và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, BIDV không chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận mà còn có trách nhiệm góp phần ổn định thị trường tiền tệ, hỗ trợ thực hiện chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Đây chính là yêu cầu cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết về phát triển kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng. Bên cạnh đó, BIDV là một trong những tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân. Nguồn vốn tín dụng, các sản phẩm ngân hàng hiện đại và các dịch vụ tài chính do BIDV cung cấp là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp tư nhân mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế. Điều này đòi hỏi BIDV phải tiếp tục cải tiến quy trình cấp tín dụng, đa dạng hóa sản phẩm tài chính, và phát triển các gói tín dụng phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Không những thế, cần tăng cường tư vấn tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị rủi ro và tiếp cận các nguồn vốn trung và dài hạn. Qua đó, BIDV không chỉ là tổ chức cung ứng vốn mà còn là đối tác đồng hành cùng sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Mối quan hệ giữa ba Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với BIDV trong việc thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối và các nền tảng thanh toán số đang làm thay đổi căn bản phương thức cung cấp dịch vụ tài chính. Vì vậy, BIDV cần tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng số, hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị, phân tích dữ liệu khách hàng, quản lý rủi ro và phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số. Chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm chi phí vận hành mà còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chinh, tăng năng lực cạnh tranh của BIDV trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
![]() |
| Đại hội đại biểu Đảng bộ BIDV lần thứ XV nhiệm kỳ 2025-2030. |
Với Đảng bộ BIDV, việc triển khai 3 Nghị quyết không chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền, quán triệt mà còn phải được cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch công tác và chỉ tiêu phát triển hằng năm của từng đơn vị. Đảng bộ cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, hiện đại, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và kế hoạch kinh doanh làm thước đo năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng. Đồng thời, phải tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Việc xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khuyến khích đề xuất sáng kiến cần được xem là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Một yêu cầu quan trọng khác là Đảng bộ BIDV cần gắn việc thực hiện 3 Nghị quyết với quá trình cơ cấu lại ngân hàng theo hướng hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững. Điều này bao gồm việc hoàn thiện mô hình quản trị theo thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và năng lực thích ứng với môi trường số. Bên cạnh nhiệm vụ phát triển hoạt động kinh doanh, Đảng bộ BIDV còn có trách nhiệm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua việc ưu tiên bố trí nguồn vốn cho các lĩnh vực trọng điểm như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng, năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa và các dự án phục vụ phát triển bền vững.
Có thể khẳng định rằng 3 Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo thành một hệ thống định hướng phát triển thống nhất. Đối với Đảng bộ BIDV, việc thực hiện hiệu quả 3 Nghị quyết vừa là yêu cầu chính trị, vừa là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định vai trò của một định chế tài chính hàng đầu. Thực hiện tốt các Nghị quyết sẽ giúp BIDV tiếp tục đổi mới mô hình hoạt động, phát triển theo hướng hiện đại, số hóa, an toàn và bền vững, đồng thời đóng góp tích cực vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Đảng lãnh đạo chuyển đổi số – Hạt nhân chính trị dẫn dắt quá trình đổi mới tại Đảng bộ BIDV
Một trong những giá trị cốt lõi của Nghị quyết 57-NQ/TW là khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực phát triển mới của đất nước, tạo ra bước chuyển căn bản về năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhận thức rõ tác động của cách mạng công nghiệp đối với ngành ngân hàng, BIDV xác định chuyển đổi số không phải là một dự án công nghệ đơn lẻ mà là chiến lược phát triển lâu dài, được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ nhằm tạo dựng mô hình ngân hàng hiện đại, lấy dữ liệu làm tài sản, lấy công nghệ làm động lực và lấy khách hàng làm trung tâm. Điều đó đòi hỏi BIDV phải chuyển từ mô hình phát triển dựa trên nguồn lực truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ số. Đây chính là quá trình hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW trong hoạt động kinh doanh.
Chuyển đổi số tại BIDV không đơn thuần là việc đưa các dịch vụ lên ứng dụng điện thoại hay Internet Banking mà là sự chuyển đổi căn bản mô hình hoạt động của ngân hàng. Trước đây, để giao dịch, khách hàng phải đến quầy, thời gian phục vụ bị giới hạn bởi giờ hành chính và nhiều quy trình giấy tờ thủ công, nhưng khi chuyển sang mô hình ngân hàng số, toàn bộ quá trình từ mở tài khoản, thanh toán, chuyển tiền, gửi tiết kiệm…đều được thực hiện trên môi trường số. Ứng dụng Định danh khách hàng điện tử (eKYC) đã góp phần thay đổi hoàn toàn quy trình này và được xem là một trong những ứng dụng tiêu biểu phản ánh sự chuyển đổi trong tư duy phục vụ của ngân hàng hiện đại. Giá trị lớn nhất của eKYC không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian giao dịch mà còn ở khả năng mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân ở mọi vùng miền, đặc biệt là những khu vực chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Đây là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu phát triển tài chính toàn diện mà Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang hướng tới. Từ góc độ của Nghị quyết 57-NQ/TW, eKYC là minh chứng cho việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ nhằm phục vụ người dân tốt hơn, giảm thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản trị.
![]() |
| Đại biểu tham quan trải nghiệm sản phẩm số của BIDV qua mô hình thực tế ảo. |
Trong thời đại công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và Big Data được xem là động lực nâng cao năng lực quản trị và khả năng cạnh tranh, dựa trên việc tự động hóa quy trình và nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Đối với BIDV, AI không chỉ là công cụ hỗ trợ tự động hóa mà còn đang từng bước tạo nền tảng cho quá trình đổi mới mô hình quản trị ngân hàng. AI có khả năng phân tích khối lượng dữ liệu rất lớn trong thời gian ngắn để hỗ trợ đánh giá nhu cầu khách hàng, nhận diện xu hướng thị trường, phát hiện giao dịch bất thường, hỗ trợ phòng chống gian lận và nâng cao chất lượng quản trị rủi ro. Điều này giúp các quyết định quản trị được đưa ra sát hơn với thực tế dữ liệu thay vì dựa chủ yếu vào kinh nghiệm như trước đây. AI góp phần thay đổi vai trò của nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng. Những công việc mang tính lặp lại từng bước được tự động hóa, cán bộ ngân hàng sẽ tập trung nhiều hơn vào tư vấn, thiết kế giải pháp tài chính và chăm sóc khách hàng. Cùng với AI, dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới, có giá trị chiến lược tương đương với vốn và tài nguyên. Khi được quản trị khoa học, chuẩn hóa và phân tích hiệu quả, dữ liệu sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ hành vi tiêu dùng, nhu cầu tài chính và xu hướng của từng nhóm khách hàng. Từ đó, BIDV có thể xây dựng các sản phẩm phù hợp hơn, cá nhân hóa dịch vụ và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Dữ liệu giúp nâng cao chất lượng quản trị điều hành. Những quyết định về chiến lược kinh doanh, quản trị rủi ro hay phân bổ nguồn lực sẽ ngày càng dựa trên phân tích dữ liệu thay vì cảm tính. Đây chính là biểu hiện rõ nét của quá trình chuyển đổi từ quản trị truyền thống sang quản trị số mà Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra.
Đổi mới toàn diện về tư duy phát triển, phương thức quản trị và mô hình kinh doanh
Mục tiêu của chuyển đổi số không phải là sở hữu nhiều công nghệ hiện đại mà là tạo ra giá trị tốt hơn cho khách hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, trải nghiệm khách hàng đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Đối với BIDV, chuyển đổi số hướng tới việc xây dựng hệ sinh thái dịch vụ tài chính thông minh, giúp khách hàng có thể giao dịch mọi lúc, mọi nơi với quy trình đơn giản, an toàn và được cá nhân hóa. Khi khách hàng được phục vụ nhanh hơn, chính xác hơn và thuận tiện hơn, niềm tin vào ngân hàng cũng được củng cố. Đây chính là nền tảng để BIDV phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh số.
Có thể nói, quá trình chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh của BIDV không chỉ là sự đổi mới về công nghệ mà còn là sự đổi mới toàn diện về tư duy phát triển, phương thức quản trị và mô hình kinh doanh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, những định hướng lớn của Nghị quyết 57-NQ/TW đã và đang từng bước được hiện thực hóa thông qua việc phát triển ngân hàng số, ứng dụng eKYC, AI, Big Data, tự động hóa quy trình và xây dựng trải nghiệm khách hàng hiện đại. Đây không chỉ là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV mà còn là đóng góp thiết thực vào tiến trình xây dựng nền kinh tế số, xã hội số và quốc gia số theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, Đảng bộ BIDV xác định rõ chuyển đổi số không phải là mục tiêu cuối cùng mà là phương tiện để tạo ra năng lực cạnh tranh mới và mô hình tăng trưởng mới. Điểm quan trọng là chuyển đổi số đã được nâng từ cấp độ “ứng dụng công nghệ” lên cấp độ “động lực phát triển nội sinh”. Điều này thể hiện ở việc công nghệ không còn đứng bên ngoài hoạt động ngân hàng mà trở thành yếu tố cấu thành trực tiếp của sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh. Trong đó, ngân hàng số được phát triển theo hướng tích hợp đa dịch vụ trên nền tảng số, cho phép khách hàng thực hiện toàn bộ hành trình tài chính trong một hệ sinh thái thống nhất. Điều này không chỉ thay đổi cách cung cấp dịch vụ mà còn thay đổi bản chất cạnh tranh trong ngành ngân hàng: từ cạnh tranh về quy mô mạng lưới sang cạnh tranh về trải nghiệm, dữ liệu và tốc độ đổi mới.
![]() |
| BIDV SmartBanking X đã sẵn sàng trên Google Play và App Store. |
Kết quả chuyển đổi số tại BIDV được thể hiện qua những con số vô cùng ấn tượng. Tính đến giữa năm 2026, khoảng 96% giao dịch tại BIDV được thực hiện trên kênh số, số lượng khách hàng số vượt mốc 16 triệu với hơn 7 triệu giao dịch mỗi ngày. Đầu tháng 7/2025, BIDV ra mắt ứng dụng BIDV Smartbanking phiên bản X với sự hội tụ ba trụ cột chiến lược là tái định hình trải nghiệm người dùng, tích hợp công nghệ AI giúp cá nhân hóa hành vi khách hàng và mở rộng hệ sinh thái số linh hoạt đa chiều; Trợ lý ảo và Chatbot giúp phục vụ khách hàng 24/7 và hỗ trợ nhân viên tra cứu nhanh các quy trình nghiệp vụ nội bộ phức tạp, giảm tải áp lực cho hệ thống tổng đài và nhân sự tuyến đầu…. BIDV được xem là ngân hàng dẫn đầu ngành về phong trào đổi mới sáng tạo, với nhiều sáng kiến số vượt trội; tích cực kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để chuẩn hóa quy trình định danh, xác thực khách hàng, làm sạch dữ liệu và giảm thiểu rủi ro gian lận. Nhờ số hóa toàn diện quy trình vận hành và ứng dụng công nghệ vào quản trị nhân sự, góp phần tối ưu hóa nguồn lực và tiết kiệm chi phí tới vài trăm tỷ đồng mỗi năm.
Không chỉ dừng lại ở mảng kinh doanh, Đảng ủy BIDV là một trong những đơn vị đi đầu cả nước trong việc ứng dụng công nghệ để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tiên phong trong mô hình Đảng bộ số với việc ban hành đề án riêng về chuyển đổi số công tác Đảng, xây dựng Đảng bộ số và số hóa sinh hoạt Đảng. Sự kết hợp hài hòa giữa “Kinh doanh số” và “Đảng bộ số” giúp BIDV không chỉ khẳng định vai trò đầu tàu tài chính quốc gia mà còn trở thành hình mẫu tiêu biểu cho thấy doanh nghiệp có vốn Nhà nước chi phối hoàn toàn có thể dẫn dắt cuộc chơi công nghệ và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
Đồng hành và kiến tạo sự phát triển cùng doanh nghiệp
Trong tổng thể nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững là khả năng tiếp cận vốn và dịch vụ tài chính hiệu quả. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống ngân hàng khi triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ là mở rộng quy mô tín dụng hay gia tăng thị phần, mà sâu xa hơn là tái định hình vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức điều đó, Đảng bộ BIDV đã lãnh đạo toàn hệ thống xác định rõ vai trò của ngân hàng không chỉ là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà còn là định chế tài chính phục vụ phát triển kinh tế tư nhân, từng bước chuyển từ tư duy truyền thống “ngân hàng là nơi cung cấp vốn” sang tư duy mới “ngân hàng là chủ thể đồng hành và kiến tạo sự phát triển cùng doanh nghiệp”. Điều đó cần được cụ thể hóa thông qua việc đổi mới tư duy tín dụng, mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, đồng thời phát triển các giải pháp tài chính phù hợp với từng nhóm khách hàng. Sự chuyển đổi này mang ý nghĩa rất căn bản, phản ánh vai trò kép của BIDV: vừa là ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc thị trường, vừa là công cụ thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà nước trong việc dẫn dắt và điều tiết dòng vốn vào những lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế và xây dựng môi trường phát triển thuận lợi cho doanh nghiệp theo đúng tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW.
Định hướng lại dòng vốn, thay đổi căn bản phương thức tiếp cận và phân bổ vốn
Không chỉ là một sản phẩm tài chính mới, tín dụng xanh còn là một công cụ điều tiết vĩ mô thông qua hệ thống ngân hàng nhằm hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phát triển bền vững. Thực tiễn triển khai tại BIDV, tín dụng xanh được xác định là một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển trung và dài hạn, gắn với xu hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế. Việc ưu tiên cấp tín dụng cho các dự án năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi mà còn góp phần định hướng lại cơ cấu đầu tư của toàn nền kinh tế. Ở góc độ sâu hơn, tín dụng xanh còn thể hiện sự chuyển đổi trong tư duy quản trị rủi ro của ngân hàng. Rủi ro được nhận diện và đánh giá đa chiều cả về tài chính, môi trường, xã hội và phát triển bền vững. Điều này cho thấy sự hội nhập ngày càng sâu của hệ thống ngân hàng Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước.
![]() |
| Nhân viên BIDV tư vấn dịch vụ cho khách hàng. |
Cùng với tín dụng xanh, mô hình tín dụng số tại BIDV cũng đã và đang từng bước chuyển sang sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các mô hình phân tích hành vi tài chính để đánh giá khách hàng một cách toàn diện và khách quan hơn. Sự thay đổi này rút ngắn đáng kể thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao trải nghiệm khách hàng; Tăng tính minh bạch và giảm thiểu yếu tố cảm tính trong quá trình thẩm định tín dụng. Ngoài ra, còn giúp mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho các nhóm khách hàng trước đây khó tiếp cận hệ thống ngân hàng truyền thống, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
BIDV đã từng bước xây dựng các chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng linh hoạt, đa dạng và dựa nhiều hơn vào dòng tiền và phương án kinh doanh thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp. Mới đây nhất, BIDV triển khai gói tín dụng 50.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1% một năm so với lãi suất hiện hành dành cho doanh nghiệp phục vụ sản xuất, kinh doanh. Chương trình được triển khai từ tháng 8/2026 đến hết tháng 12/2028 hoặc khi giải ngân hết quy mô gói tín dụng, áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa có tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng các điều kiện cấp tín dụng của BIDV và doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng kinh tế. Nhóm này gồm các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn, chế biến, chế tạo và các dự án xanh. Trước gói tín dụng 50.000 tỷ đồng, BIDV đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Riêng trong hai năm 2025-2026, chương trình SME Fast Track cung cấp các ưu đãi về lãi suất, phí cho doanh nghiệp giao dịch trên kênh số BIDV Direct. Doanh nghiệp tham gia chương trình còn được sử dụng phần mềm quản lý bán hàng BIDV Direct Shop, kết nối hệ thống kế toán, ERP nội bộ qua BIDV Direct Link cùng các chính sách về tỷ giá và phí dành cho hoạt động xuất nhập khẩu. BIDV cung cấp các giải pháp vốn và tư vấn về tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững. Đây là sự thay đổi mang tính cấu trúc trong tư duy tín dụng ngân hàng. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là hoạt động kinh doanh mà còn là một nhiệm vụ mang tính chính trị – xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 68-NQ/TW về phát huy vai trò động lực của kinh tế tư nhân.
Xây dựng hệ sinh thái tài chính tích hợp và tiên phong thiết kế giải pháp cho doanh nghiệp
Một xu hướng quan trọng trong hoạt động ngân hàng hiện đại là chuyển từ việc cung cấp dịch vụ đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái tài chính tích hợp. BIDV đang từng bước phát triển theo hướng này, trong đó ngân hàng không chỉ cung cấp tín dụng mà còn tích hợp các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, đầu tư và quản lý tài chính doanh nghiệp trong cùng một hệ thống. Sự hình thành hệ sinh thái tài chính mang lại giá trị kép. Một mặt, giúp doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách đồng bộ, thuận tiện và hiệu quả hơn. Mặt khác, giúp ngân hàng gia tăng mức độ gắn kết với khách hàng, mở rộng dữ liệu và nâng cao năng lực phân tích hành vi tài chính. Quan trọng hơn, hệ sinh thái tài chính là biểu hiện của quá trình chuyển đổi từ “ngân hàng giao dịch” sang “ngân hàng nền tảng”, phù hợp với xu thế phát triển của ngành tài chính toàn cầu và yêu cầu chuyển đổi số trong nước. Thực hiện sứ mệnh của định chế tài chính hàng đầu, BIDV đã chủ động cấu trúc lại danh mục cho vay, dành tỷ trọng lớn để tiếp vốn cho các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất cốt lõi. BIDV cũng liên tục tung ra các gói giải pháp tài chính với lãi suất hấp dẫn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tối ưu hóa chi phí vốn lưu động và đầu tư hạ tầng nhà xưởng.
![]() |
| BIDV, NAPAS và Weixin Pay tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt tiếp cận thị trường Trung Quốc hiệu quả hơn. |
Đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 68-NQ/TW về việc nâng cao năng lực cho khối doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và nhỏ, BIDV cũng đã có những bước đi đột phá thông qua các gói giải pháp toàn diện cho doanh nghiệp, các dịch vụ tài chính phái sinh, quản lý dòng tiền tập trung, tài trợ thương mại và bảo lãnh điện tử với thủ tục tinh giản tối đa. Không những thế, BIDV còn kết nối các tập đoàn tư nhân lớn với hệ thống nhà cung cấp, đại lý là các doanh nghiệp nhỏ. Sự bảo chứng bằng luồng dữ liệu giao dịch giúp các doanh nghiệp tư nhân nhỏ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín chấp của BIDV mà không gặp rào cản về tài sản bảo đảm. BIDV đã trở thành đối tác chiến lược dài hạn của các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn tại Việt Nam trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và xuất khẩu (dệt may, da giày, thủy sản…). Dòng vốn của BIDV giúp các doanh nghiệp này có đủ tiềm lực tài chính để mở rộng quy mô, nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm, từ đó cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế và kéo theo sự phát triển của chuỗi doanh nghiệp vệ tinh trong nước. Bằng các hành động thiết thực, BIDV không chỉ đóng vai trò là "bà đỡ" tài chính mà còn là người bạn đồng hành tin cậy, giúp khu vực kinh tế tư nhân tháo gỡ các nút thắt về vốn và công nghệ, vững vàng trở thành động lực bứt phá của nền kinh tế nước nhà theo đúng tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW.
Phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng
Với Nghị quyết 79-NQ/TW, Đảng bộ BIDV xác định rõ yêu cầu phải nâng cao năng lực quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả, đồng thời phát huy vai trò dẫn dắt trong hệ thống ngân hàng thương mại, trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô và ổn định hệ thống tài chính. Điều này không chỉ thể hiện ở quy mô hoạt động mà quan trọng hơn là ở năng lực đổi mới, khả năng ứng dụng công nghệ, năng lực kiểm soát rủi ro và khả năng dẫn dắt thị trường trong những thời điểm biến động. BIDV đã tận dụng tối đa dư địa chính sách để triển khai các phương án tăng vốn điều lệ mạnh mẽ, qua đó củng cố hệ số an toàn vốn (CAR) theo các chuẩn mực quốc tế khắt khe như Basel III. Tiềm lực tài chính gia tăng vượt trội là bệ phóng vững chắc để BIDV hiện thực hóa mục tiêu bứt phá vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về quy mô tài sản và hiệu quả hoạt động.
![]() |
| Đà Nẵng và Ngân hàng BIDV ký kết ghi nhớ hợp tác phát triển giải pháp công nghệ tài chính cho Khu thương mại tự do Đà Nẵng. |
Đảng bộ đã lãnh đạo toàn hệ thống quán triệt nguyên tắc xuyên suốt: giữ vững vai trò chủ lực của định chế tài chính hàng đầu trong việc ổn định thị trường tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, đồng thời dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên phát triển của nền kinh tế. Toàn hệ thống đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong mọi mặt hoạt động, từ quản trị nội bộ đến cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Đây là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa yêu cầu của Nghị quyết 79-NQ/TW về nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nước trong điều kiện mới.
Là một định chế tài chính lớn, BIDV cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia. Trong thực tiễn, Đảng bộ BIDV đã lãnh đạo toàn hệ thống thực hiện tốt vai trò này thông qua việc bảo đảm an toàn hoạt động, kiểm soát rủi ro và duy trì thanh khoản ổn định trong các giai đoạn thị trường biến động. Đồng thời, BIDV còn giữ vai trò dẫn dắt thị trường thông qua việc triển khai các chính sách tín dụng định hướng, hỗ trợ các lĩnh vực ưu tiên và tham gia tích cực vào các chương trình phát triển kinh tế của Nhà nước. Đảng bộ BIDV đã chú trọng lãnh đạo công tác phát triển nguồn nhân lực theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng số và bản lĩnh chính trị. Việc phát triển nguồn nhân lực không chỉ đáp ứng yêu cầu vận hành của ngân hàng hiện đại mà còn tạo nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn của BIDV trong hệ thống tài chính – ngân hàng.
Đột phá về mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế
Thấm nhuần tinh thần của Nghị quyết 79-NQ/TW về việc đổi mới tư duy làm kinh tế Nhà nước, chuyển mạnh sang "kiến tạo phát triển“, BIDV đã thể hiện rõ vai trò của một ”quả đấm thép" trong nền kinh tế. BIDV chủ động cấu trúc nguồn vốn, tiên phong thực thi tín dụng xanh, đóng vai trò đầu mối thu xếp vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia, các dự án năng lượng, chuyển đổi số và công nghệ cao, đồng thời dẫn dắt và thu hút dòng vốn của các thành phần kinh tế khác tham gia.
Một trọng tâm lớn của Nghị quyết 79-NQ/TW là thay đổi phương thức quản trị doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, nâng cao tính minh bạch, BIDV từng bước chuẩn hóa quy trình vận hành qua việc áp dụng các thông lệ quản trị tốt nhất trên thế giới vào bộ máy điều hành, chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình quản trị theo dữ liệu. Nhờ cơ chế tự chủ cao hơn và cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết, tỷ suất sinh lời và năng suất lao động của toàn hệ thống BIDV liên tục được cải thiện, qua đó bảo đảm dòng vốn Nhà nước được bảo toàn và phát triển bền vững. Việc củng cố năng lực tài chính và quản trị theo Nghị quyết 79-NQ/TW cũng giúp BIDV gia tăng "sức đề kháng", trở thành tấm lá chắn vững chắc bảo vệ an ninh tiền tệ quốc gia trước các biến động khó lường của thị trường quốc tế. Những thành quả bước đầu trong việc thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW đã chứng minh BIDV không chỉ sử dụng hiệu quả nguồn lực công, mà còn đang chuyển mình mạnh mẽ từ một ngân hàng thương mại đơn thuần thành một định chế tài chính hiện đại, đủ tầm để dẫn dắt và đồng hành cùng đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, 68-NQ/TW và 79-NQ/TW, có thể thấy Đảng bộ BIDV đã phát huy rất tốt vai trò hạt nhân chính trị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng. Việc triển khai Nghị quyết không chỉ dừng lại ở việc quán triệt hay phổ biến nội dung, mà quan trọng hơn là quá trình chuyển hóa tư duy chiến lược của Đảng thành chương trình hành động, kế hoạch công tác cụ thể trong hoạt động ngân hàng, gắn với từng lĩnh vực, từng đơn vị và từng cán bộ, đảng viên, tạo được sự đồng thuận và thống nhất cao trong toàn hệ thống. Ba Nghị quyết được triển khai không tách rời mà gắn kết hữu cơ, tạo thành một chỉnh thể phát triển trong đó BIDV là chủ thể quan trọng kết nối và hiện thực hóa các trụ cột này trong thực tiễn. Điểm then chốt là Đảng bộ BIDV không chỉ dừng lại ở việc triển khai nhiệm vụ chuyên môn mà còn tạo ra sự chuyển biến về tư duy phát triển trong toàn hệ thống, biến chuyển đổi số thành động lực phát triển, biến việc phục vụ kinh tế tư nhân thành nhiệm vụ chiến lược và biến việc nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước thành yêu cầu thường xuyên. Quan trọng hơn, quá trình này đã góp phần hình thành mô hình ngân hàng hiện đại, lấy công nghệ làm nền tảng, coi dữ liệu là tài sản, lấy con người làm trung tâm và xem sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định. Đây cũng chính là minh chứng sinh động cho năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và góp phần tạo nên dấu ấn lãnh đạo của Đảng bộ BIDV trong việc hiện thực hóa 3 Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị, góp phần tích cực vào tiến trình xây dựng nền kinh tế số, xã hội số và quốc gia số theo định hướng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
|
| Fairfax – BIDV – BIC: Củng cố hợp tác chiến lược sau hơn một thập kỷ đồng hành Sự đồng hành giữa BIDV, Fairfax và BIC đã góp phần quan trọng thúc đẩy BIC phát triển cả về quy mô và hiệu quả ... |
| BIDV và Quỹ Cộng đồng phòng tránh thiên tai hợp tác trồng 240.000 cây xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long Tính đến nay, chương trình trồng 1 triệu cây xanh của BIDV đã đạt được những kết quả tích cực với hơn 760.000 cây xanh ... |
| Tăng cường năng lực viết chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp Ngày 15/4, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị tập huấn chuyên đề “Kỹ năng và định hướng sáng tác tác phẩm dự thi ... |








