| Tấm biển được dựng lên tại trại Davis, tháng 11/1973. ( Ảnh tư liệu của Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban liên hợp quân sự trại Davis) |
Trong những ngày đầu Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam bắt đầu được triển khai, hai đoàn đại biểu quân sự của ta đã vào trại Davis, nằm trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), để làm nhiệm vụ thi hành Hiệp định.
Làm sạch trại Davis
Trại David vốn là một trại lính Mỹ, chúng tôi vào tiếp quản để làm trụ sở của Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa (Đoàn A) và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B).
Phải một tuần lễ, làm cật lực, chúng tôi mới tẩy uế sạch dấu vết bẩn thỉu để lại, những tấm ảnh khiêu dâm lõa lồ, những bông băng dính đầy máu mủ, những ống tiêm còn đọng máu và ma túy…
Trại Davis khi ấy chỉ có vài cây đa mới trồng không đủ làm nên bóng mát, mấy cây trứng cá lưa thưa dăm ba cành khẳng khiu và hàng chục căn nhà lợp fibro xi măng dùng cho người ở. Nắng nóng ở đây thật kinh khủng, ánh nắng như thiêu đốt mọi vật trên mặt đất, sân bê tông cũng góp phần làm cho nhiệt độ tăng cao hơn. Nắng và nóng!
| Cán bộ Đoàn B chăm sóc rau xanh ở trại Davis. (Ảnh tư liệu của Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban liên hợp quân sự trại Davis) |
Chỉ ít ngày sau, xung quanh nhà đầy cỏ dại đã được thay bằng màu xanh mướt mát của các loại rau: Rau cải, rau muống, mùng tơi, cà chua… Hậu phương lớn miền Bắc và trong căn cứ kháng chiến Lộc Ninh đã chăm lo cho cuộc sống của chúng tôi ở tiền tuyến.
Đồng chí Nguyễn Khắc Toan, chiến sĩ cảnh vệ của thiếu tướng Lê Quang Hòa (Trưởng đoàn A), có người nhà ở làng hoa Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. Anh đã nhắn gửi vào trại Davis ít giống hoa đồng tiền, lay ơn, hồng, cúc…
Để có được những luống rau xanh ngon, những bông hoa nở đẹp trong doanh trại, chúng tôi phải cải tạo đất trồng. Nếu cứ để nguyên đất có sẵn thì chẳng có loại cây gì sống nổi, vì đây là loại cát được chuyển từ nơi khác về làm sân bay, chỉ có duy nhất cỏ dại mọc lên cao hơn đầu gối. Chúng tôi vét từ dưới cống lớp rong rêu đem rải lên mặt đất, cỏ dại ngâm vào nước làm phân bón cho rau, hoa…
Sau một thời gian trồng trọt, chăm bón, các loại rau lên xanh mơn mởn. Ngày thu hoạch thật vui, chúng tôi báo nhà bếp xuống cân và sau vài đợt nhà bếp thanh toán lại tiền với các bộ phận có rau cân cho bếp ăn. Giá cả do các anh hậu cần đặt mua của nhà thầu từ bên đối phương họ đưa thực phẩm vào phục vụ ta. Tiền bán rau, mua đường, sữa cho anh em bồi dưỡng khi canh gác ban đêm vất vả. Rau đủ loại để đổi bữa, vừa ngon lại bảo đảm an toàn, không như rau mua từ nhà thầu đem vào… Bếp ăn chủ động xếp lịch lấy rau của đơn vị. Chiều chiều, mọi người chơi các môn thể thao như bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, tennis… sau đó chăm bón cho các luống rau, các vườn hoa… Rau tự anh em tăng gia nên khoản thực phẩm này làm giảm bớt khó khăn để bộ phận hậu cần có điều kiện lo các khoản khác…
Anh Hoàng Anh Tuấn, Thiếu tướng, Trưởng đoàn B cũng có một luống rau cạnh phòng ngủ và anh trồng cả hoa, đu đủ. Bộ phận ban bảo vệ của chúng tôi cũng trồng các loại rau, hoa như các bộ phận khác, riêng tôi có hạt mít, hạt vải, hạt nhãn từ miền Bắc gửi vào, sau khi thưởng thức món quà quý của quê hương, các hạt tôi đem ươm, ít ngày sau mọc mầm và đem ra trồng mỗi khu vực một hai cây. Sau ngày 30/4/1975, những cây này đã cao ba, bốn mét, tạo cảnh quan vui mắt, dễ chịu… Mít đã có quả non, các bạn ở sau ngày giải phóng cứ tấm tắc khen: “Mít Mỹ trồng ăn ngon quá!”. Tôi phải giải thích, họ mới biết và hiểu về những loại cây trồng có trong khu vực trại Davis này.
Hàng tuần vào ngày thứ Bảy, Đoàn ta tổ chức họp báo. Các phóng viên tò mò muốn biết cuộc sống của những người lính cách mạng sống trong một khu vực bị phong tỏa chặt chẽ như vậy. Họ ngạc nhiên khi thấy những luống rau xanh non và càng xúc động khi các nhà báo nữ được tặng hoa. Họ là người nước ngoài, làm việc cho các hãng truyền hình, thông tấn, báo chí lớn trên thế giới như NHK, AP, BBC, Time… Chị Laura Panme (một nữ nhà báo nước ngoài mà tôi không nhớ tên báo) tay cầm bó hoa do nữ chiến sĩ Quân giải phóng Bích Thuận và Hồng Chiến tặng, luôn nở nụ cười rất tươi và đội lên đầu chiếc mũ có đính quân hiệu nửa xanh, nửa đỏ chụp ảnh lưu niệm. Chị cảm động và nói: “Các bạn nhất định thắng! Việt Nam nhất định thắng!”.
Trong 823 ngày đêm, chúng tôi sống và chiến đấu giữa sào huyệt kẻ thù phong tỏa, uy hiếp trắng trợn, nguy hiểm, căng thẳng, những người lính cách mạng vẫn đàng hoàng, đĩnh đạc, tỉnh táo đấu tranh bằng lời văn pháp lý của Hiệp định Paris, bằng cuộc sống tốt đẹp, văn minh của những người chiến thắng.
| Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chăm sóc hoa vào buổi chiều giờ giải lao và thể thao trong trại Davis. (Ảnh tư liệu của Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban liên hợp quân sự trại Davis) |
Những cái Tết đáng nhớ
Ở nơi hang hùm miệng sói, chúng tôi có ba cái Tết Nguyên đán rất đáng nhớ.
Ngày 29/1/1973, bộ phận tiền trạm của hai đoàn ta mới vào được trại Davis, mấy ngày liền phải dọn dẹp, tẩy uế nơi ở.
Đêm giao thừa, mọi người ngồi tập trung ngoài sân nghe Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Trưởng đoàn A) và Trung tướng Trần Văn Trà (Trưởng đoàn B) động viên, chúc Tết. Mỹ ngụy đã không để cho đêm giao thừa Quý Sửu của chúng tôi yên ổn, vui vẻ… Máy bay trực thăng soi đèn pha vào trại Davis, vòng lượn quay đi, quay lại ầm ĩ, náo loạn. Chúng lấy cớ có một lá cờ đỏ sao vàng cắm trong doanh trại… Lãnh đạo hai đoàn thống nhất cho anh em cất lá cờ, vì cả bốn bên chưa có quy định về việc này. Sau đó bọn trực thăng lảng xa. Những chiếc xe chở lính ngụy cũng lui về vị trí đóng quân.
Mấy ngày Tết này chúng tôi vẫn có bánh chưng, bánh tét từ Hà Nội và Lộc Ninh đem vào. Mấy ngày này như “ăn Tết Quang Trung”. Hà Nội còn gửi vào một cành đào to, Lộc Ninh mang ra một cây mai vàng. Hai vật đào và mai biểu tượng như đây là một cái tết Bắc Nam sum họp một nhà.
Sáng mồng hai Tết, đồng chí Lê Quang Hòa và Trần Văn Trà cùng một số thành viên phục vụ đi chúc Tết bốn thành viên trong Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định Paris. Suốt dọc đường, người dân Sài Gòn lần đầu được nhìn thấy các cán bộ cách mạng thật chững chạc, đàng hoàng ngay giữa ban ngày. Ánh mắt đầy tin tưởng của đồng bào vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng càng hiện rõ.
Tết năm Giáp Dần 1974, qua một năm rèn luyện, thử thách, những người lính cách mạng tự túc được rau xanh và có những bông hoa tuyệt đẹp nở bên nhà ở.
Tổng cục Chính trị và Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam B2 cử tổ văn công xung kích vào phục vụ cho hơn 300 cán bộ, chiến sĩ trong trại Davis nhân kỷ niệm 29 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/1973), nội dung chương trình thật phong phú. Có các bài đồng ca như: “Tiến về Sài Gòn”, tốp ca nữ “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn”…, đơn ca nữ “Miền Nam nhớ mãi ơn người”, độc tấu phong cầm (accordion) và đặc biệt tiết mục độc tấu đàn bầu được các bạn trong Ủy ban quốc tế rất thích.
| Các nữ chiến sĩ quân giải phóng từ Lộc Ninh chuẩn bị lên máy bay vào trại Davis công tác trong Ban liên hợp quân sự bốn bên và hai bên trung ương, ngày 2/2/1973.(Ảnh tư liệu của Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban liên hợp quân sự trại Davis) |
Trước khi văn công xung kích về hậu phương đã kịp dàn dựng cho anh em cán bộ, chiến sĩ các tiết mục văn nghệ vui Tết Giáp Dần.
Tết Ất Mão 1975, sau hai năm đấu tranh thi hành Hiệp định Paris, đối phương càng ngày càng phá hoại nghiêm trọng những điều khoản quy định trong Hiệp định. Họ đã buộc ta phải đình chỉ các phiên họp giữa hai đoàn từ ngày 8/10/1974. Mỹ ngụy vẫn tin rằng với số lượng vũ khí, trang thiết bị quân sự khổng lồ mà họ để lại từ trước “có thể chiến đấu với Việt Cộng mười năm”, họ hung hăng lấn chiếm, đánh phá vùng giải phóng của ta.
Họ càng chống phá thì càng bị Quân giải phóng trừng trị nghiêm khắc, họ giở trò cắt chuyến bay liên lạc thường kỳ Sài Gòn - Lộc Ninh, cắt điện, cắt nước sinh hoạt,…
Chiều 30 Tết, họ cắt điện, cắt nước. Bánh chưng, bánh tét đã gói xong, đặt nồi lên bếp đun thì không có nước. Đồng chí Hoàng Anh Tuấn (Trưởng đoàn B) cho gọi anh Nguyễn Trọng Tô sĩ quan liên lạc Tổ liên hợp quân sự bốn bên (Đoàn A) và nói: “Cậu gọi điện cho bên kia sửa chữa ngay đường ống nước. Ngày Tết lại định giở trò gì đây?”.
Anh Tô nói: “Việc này phải gọi cho Mỹ, còn mấy tay ngụy chẳng giải quyết được gì!”.
Anh Tuấn đồng tình: “Cậu gọi ngay đi!”.
Anh Tô gọi cho Johnson, sĩ quan liên lạc Mỹ. Chỉ nửa tiếng sau vòi nước chảy ào ào.
Đêm giao thừa, có đội múa lân của anh Đặng Văn Nghiêm đi dọc trại Davis, tiếng trống, phèng la inh ỏi… Tới phòng của Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, anh ra mở cửa ngạc nhiên hỏi: “Lân ở đâu mà đẹp thế?”. Anh Nghiêm nói: “Dạ, Lân từ Hà Nội gửi vào, anh em chúng tôi tập kín để hôm nay ra mắt bất ngờ đó anh!”.
Sáng mồng một Tết, đội lân đi chúc Tết từng nhà. Đến sân bóng chuyền dừng lại khá lâu, biểu diễn cho những gia đình bên “khu gia binh”. Họ kéo ra xem rất đông, có người trầm trồ: “Mấy ông Việt Cộng thiệt giỏi!”.
Sáng mồng hai Tết, bốn trưởng đoàn trong Ủy ban quốc tế đến chúc Tết đoàn ta. Khi đội lân ra cổng đón khách, họ rất ngạc nhiên và mừng vui khi cảnh đón khách thật độc đáo...
Ba cái Tết Nguyên đán của chúng tôi trong trại Davis thật đáng nhớ. Những đóa hoa tươi của chúng tôi tự trồng đã nở thật đẹp, cùng với hoa đào Hà Nội và hoa mai Lộc Ninh càng làm cho ngày Tết Ất Mão thêm nhiều ý nghĩa.
Chúng tôi đã sống 823 ngày đêm trong một chảo lửa nắng nóng, bị kẻ thù dùng trăm mưu, ngàn kế uy hiếp, hãm hại, nhưng vẫn luôn lạc quan tin tưởng vào ngày thắng lợi cuối cùng. Vượt qua tất cả, gian khó, hiểm nguy, tự cải tạo môi trường sống, sự rèn luyện ý chí, sức khỏe để sẵn sàng chiến đấu, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 30/4/1975.