Từ năm 1949, ở Đài Loan đã xuất hiện thể loại truyện Kiếm hiệp vốn được gọi là truyện wuhsia hay võ sĩ, không chỉ hấp dẫn người đọc bởi văn phong chữ nghĩa mà còn ở từng nhân vật, trang phục, vũ khí, nhạc cụ và các sự kiện có trong tác phẩm. Theo nghiên cứu, thể loại này đã ra đời từ đời Đường tại Trung Quốc (618-907), và phát triển cực thịnh nửa cuối thế kỷ 20, như một biểu tượng tự do, trí dũng và trượng nghĩa. Đồng thời đây cũng là một thể loại văn học dã sử, lãng mạn và bí hiểm. Có hai trường phái viết truyện kiếm hiệp, một ở Bắc Kinh, và hai là ở Thượng Hải, hàng chục cuốn tiểu thuyết trong đó nổi bật nhất là truyện của Kim Dung vào thập niên 1960 đã được dựng thành phim, bùng nổ khắp nơi, trong đó có Đài Loan.
Kể từ khi xuất hiện cuốn truyện kiếm hiệp đầu tiên, tới nay, hòn đảo này đã có hơn 4.000 đầu truyện của khoảng 300 nhà văn. Mỗi tác phẩm là một kỳ công gói gọn các hiểu biết về phong tục, tập quán, với phong cách nổi bật khác nhau. Các nhà văn Đài Loan vẫn khai thác cốt truyện thời xưa song lại thêm vào đó những yếu tố hiện đại khiến truyện trở nên gần gũi hơn với cuộc sống và còn mang tính học thuật. Nhiều truyện được đưa ra làm chủ đề nghiên cứu trong ngành giáo dục. Có cả nơi chuyên nghiên cứu truyện kiếm hiệp.
Hiện nay, ở Đài Loan, ngoài đọc truyện kiếm hiệp, người dân từ trẻ em tới cụ già còn sử dụng kiếm để rèn luyện sức khoẻ. Các lò rèn vẫn làm kiếm theo cách cổ truyền Trung Quốc. Cùng với võ thuật thì kiếm có lịch sử lâu đời. Những thanh kiếm đầu tiên được làm bằng đồng ra đời cách đây 3.000 năm vào thời Tây Chu (năm 1122-770 TCN), kiếm sắt chuôi đồng vào thời Chiến quốc (475-221 TCN) và kiếm sắt ở đời Hán (203 TCN-220 CN). Tần Thủy Hoàng, lên ngôi năm 256 TCN, đã dùng kiếm làm vũ khí chủ yếu, vật trang trí, tượng trưng cho sức mạnh, cấp bậc, chức danh và quý tính, vật lễ trong các nghi lễ tôn giáo hoặc lễ mừng trọng thể.
Kiếm vẫn còn giữ vị trí đặc biệt trong văn hóa ở Đài Loan. Phổ biến nhất là loại kiếm võ để tập võ thuật cổ truyền và kiếm lưu niệm làm quà tặng cho khách du lịch. Việc đúc kiếm mặc dù đã nhờ công nghệ tiên tiến, song vẫn là một quá trình phức tạp. Thợ rèn phải chọn kim loại thích hợp, có thanh kiếm chỉ làm bằng một kim loại, có thanh kiếm làm bằng hàng chục kim loại. Hợp kim tạo cho chúng độ bền bóng lâu năm, khó gỉ, không cong vẹo, mà lại đàn hồi, sắc bén.
Sau khi tìm được thứ kim loại ưng ý, người thợ cắt một đoạn làm chiều dài kiếm tùy thuộc vào mục đích và chiều cao người dùng. Kiếm dùng trên lưng ngựa sẽ dài hơn dùng dưới mặt đất; để đo đúng chiều dài này phải cầm kiếm sau cánh tay, cho mũi kiếm chạm vừa đúng vành tai, sau đó rèn kiếm qua lửa, gạt bỏ tạp chất và kiểm tra độ cứng, dẻo cần thiết. Xưa, do không biết nhiệt độ lửa và độ chín của kiếm là bao nhiêu nên người ta hay phải rèn kiếm vào đêm để đoán định nhiệt độ sắc lửa. Giờ đây, làm vào ban ngày nhờ thiết bị tối tân nên công việc hiệu quả hơn. Sau khi đúc kiếm, người ta bỏ thanh kiếm ở ngoài trời 5 năm để tôi qua thời tiết nắng mưa. Thường chỉ có 30 - 50% số này chịu được thử thách này mà không bị gỉ, những thanh kiếm tốt được bọc bùn nướng trong lửa nhỏ tăng độ dẻo, nghiến, giũa, làm gờ, đánh bóng, làm bao, chuôi kiếm...
Tiếp đó, thanh kiếm trải qua thử thách nữa là chặt đứt một miếng thép đường kính 0,5cm trên đá, nếu chặt không bị sứt là đạt yêu cầu. Cuối cùng là thợ rèn kiểm tra kiểu dùng kiếm, kiếm có mũi nhẹ sẽ được dùng để đâm, kiếm mũi nặng để chặt và cắt. Đây là khâu gần như quan trọng nhất vì cho mọi người biết vật đó dùng để làm gì. Kiếm quý và đẹp có thể ở mức giá 1.500 - 14.500 USD, và thường để làm quà tặng trong các dịp lễ trọng đại.
Chu Mạnh Cường