![]() |
| Đại tá, PGS.TS. Nguyễn Trung Kiên trình bày tại Phiên họp của Quốc hội. (Ảnh: L. P) |
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, khó đoán định, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống đan xen, việc chủ động mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hợp tác quốc tế không chỉ là phương thức củng cố môi trường hòa bình, ổn định mà còn là động lực quan trọng để huy động nguồn lực, tiếp thu tri thức, khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững đất nước. Việc xây dựng Luật Thỏa thuận quốc tế sửa đổi là bước đi cần thiết, góp phần hoàn thiện thể chế đối ngoại, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức và địa phương chủ động hợp tác các đối quốc tế.
Dự thảo Luật gồm 6 chương, 47 điều, thể hiện tư duy đổi mới trong quản lý hoạt động đối ngoại, kết hợp hài hòa giữa mở rộng hợp tác với bảo đảm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; giữa phân cấp, trao quyền với tăng cường trách nhiệm; giữa đơn giản hóa thủ tục với nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Hoàn thiện thể chế, mở rộng không gian hợp tác quốc tế
Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, hoạt động hợp tác với nước ngoài không còn giới hạn ở cấp Nhà nước, Chính phủ hay các bộ, ngành trung ương mà ngày càng mở rộng đến chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều hoạt động hợp tác quốc tế có ý nghĩa thiết thực đối với phát triển kinh tế - xã hội được triển khai trực tiếp ở địa phương, trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, du lịch, văn hóa và giao lưu nhân dân.
Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận quốc tế phải đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian hợp tác, phát huy tính năng động, sáng tạo của các chủ thể tham gia, đồng thời bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
Điều 2 dự thảo Luật xác định tương đối toàn diện các bên ký kết gồm Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội, bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, một số cơ quan, đơn vị trực thuộc, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức có liên quan.
Dự thảo cụ thể hóa việc tham gia ký kết thỏa thuận quốc tế của chính quyền cấp xã, phù hợp với yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đưa hoạt động hợp tác quốc tế đến gần hơn với cơ sở, nơi trực tiếp triển khai nhiều chương trình hợp tác và thụ hưởng thành quả của hội nhập.
Điều 19 và Điều 20 quy định thẩm quyền quyết định ký kết thỏa thuận quốc tế của các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương và các đơn vị trực thuộc. Việc xác định rõ thẩm quyền không chỉ tạo điều kiện cho các chủ thể chủ động triển khai hợp tác mà còn khắc phục nguy cơ chồng chéo, thiếu thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Có thể khẳng định, mở rộng chủ thể tham gia hợp tác quốc tế là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển hiện nay. Tuy nhiên, mở rộng không đồng nghĩa với phân tán quyền lực hay buông lỏng quản lý, mà phải gắn với việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức.
Chủ động hội nhập đồng thời với bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc
Một trong những nội dung có ý nghĩa nền tảng của dự thảo Luật là xác lập các nguyên tắc ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế. Điều 3 quy định việc ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, lợi ích quốc gia, dân tộc, đường lối, chính sách đối ngoại và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tuân thủ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế.
Đặc biệt, dự thảo xác định rõ thỏa thuận quốc tế không được làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế; không được sử dụng hình thức thỏa thuận quốc tế để giải quyết những vấn đề phải thực hiện thông qua ký kết điều ước quốc tế.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định ranh giới pháp lý giữa thỏa thuận quốc tế và điều ước quốc tế, bảo đảm hoạt động hợp tác được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng tính chất và không làm ảnh hưởng đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trong thực tiễn, hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng sang những lĩnh vực có tính nhạy cảm như hạ tầng chiến lược, công nghệ số, dữ liệu, năng lượng, tài nguyên, môi trường, đầu tư và các khu vực có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp, hoạt động hợp tác có thể bị lợi dụng để tác động đến lợi ích kinh tế, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Điều 22 dự thảo quy định đối với thỏa thuận quốc tế liên quan đến quốc phòng, an ninh, đầu tư, cơ quan đề xuất ký kết phải lấy ý kiến bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực tương ứng. Đây là cơ chế phòng ngừa quan trọng, góp phần nhận diện, đánh giá và kiểm soát những vấn đề có thể ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh ngay từ giai đoạn chuẩn bị ký kết.
Phát huy vai trò của địa phương, đưa hợp tác quốc tế đến gần người dân
Dự thảo Luật tạo cơ sở pháp lý cho chính quyền địa phương tham gia sâu hơn vào các hoạt động hợp tác quốc tế. Theo khoản 8 Điều 3, UBND xã, phường ở khu vực biên giới được ký kết thỏa thuận quốc tế về giao lưu, trao đổi thông tin, kết nghĩa, hợp tác thực hiện quản lý biên giới và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
Quy định này có ý nghĩa thiết thực đối với các địa phương có đường biên giới trên đất liền, nơi hoạt động giao thương, giao lưu nhân dân, hợp tác quản lý biên giới và phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia diễn ra thường xuyên. Chẳng hạn, tại các địa bàn biên giới Việt Nam - Campuchia, việc tăng cường hợp tác giữa chính quyền cơ sở hai bên có thể góp phần thúc đẩy thương mại biên giới, kết nối giao thông, phát triển du lịch, trao đổi thông tin, phối hợp bảo vệ môi trường và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật.
Đối với các địa phương có cửa khẩu quốc tế, khu kinh tế cửa khẩu và vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, hoạt động hợp tác quốc tế còn có thể tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ, kết nối chuỗi cung ứng, phát triển dịch vụ logistics và nâng cao đời sống nhân dân khu vực biên giới.
Tuy nhiên, để các quy định này phát huy hiệu quả, cần bảo đảm sự hướng dẫn thống nhất, tăng cường năng lực pháp lý và chuyên môn đối ngoại cho đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là tại các địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa. Mục tiêu cuối cùng của hợp tác quốc tế không chỉ là mở rộng quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức mà còn phải tạo ra những lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và cộng đồng.
![]() |
| Đại tá, PGS.TS Nguyễn Trung Kiên trình bày tại Phiên họp của Quốc hội. (Nguồn: Quốc hội) |
Cải cách thủ tục, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động đối ngoại
Trong bối cảnh các quan hệ hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng nhanh, đa dạng và linh hoạt, việc cải cách thủ tục ký kết thỏa thuận quốc tế là yêu cầu cần thiết. Dự thảo Luật dành Chương IV quy định trình tự, thủ tục rút gọn đối với việc ký kết, sửa đổi, bổ sung, gia hạn thỏa thuận quốc tế.
Theo Điều 30, thủ tục rút gọn được áp dụng trong một số trường hợp, bao gồm thỏa thuận phù hợp với chủ trương, đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp cần xử lý gấp do yêu cầu chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cứu trợ khẩn cấp, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và một số trường hợp khác.
Điều 32 quy định thời hạn trả lời lấy ý kiến theo thủ tục rút gọn là 3 ngày làm việc. Những quy định này góp phần nâng cao tính kịp thời, linh hoạt trong xử lý công việc đối ngoại, nhất là trong các tình huống cần phản ứng nhanh. Bên cạnh đó, Điều 8 quy định về ký điện tử thỏa thuận quốc tế, gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, pháp luật về giao dịch điện tử, lưu trữ và bảo vệ bí mật nhà nước.
Điều 44 quy định việc xây dựng Cơ sở dữ liệu về thỏa thuận quốc tế, là một cấu phần của Cơ sở dữ liệu quốc gia về cam kết quốc tế, góp phần hiện đại hóa hoạt động quản lý, theo dõi và công khai thông tin theo quy định. Đây là những bước tiến mới, thể hiện xu hướng chuyển từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm giải trình.
Từ ký kết đến thực thi, lấy hiệu quả hợp tác làm thước đo
Một thỏa thuận quốc tế chỉ thực sự có giá trị khi những nội dung hợp tác được triển khai trong thực tiễn, mang lại lợi ích cụ thể cho đất nước, địa phương và người dân. Thực tế cho thấy, không phải mọi thỏa thuận hợp tác quốc tế được ký kết đều có thể phát huy hiệu quả như mong muốn. Có những thỏa thuận sau khi ký kết chưa được triển khai đầy đủ, thiếu nguồn lực thực hiện hoặc chưa xác định rõ trách nhiệm của các bên.
Vì vậy, một điểm tích cực của dự thảo Luật là chú trọng hơn đến trách nhiệm tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả hợp tác. Khoản 5 Điều 3 yêu cầu thỏa thuận quốc tế phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và năng lực thực thi của cơ quan, tổ chức ký kết; xác định rõ đầu mối thực hiện, có lộ trình và kế hoạch triển khai sau khi ký.
Điều 38 quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện, định kỳ rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc chấm dứt hiệu lực, rút khỏi những thỏa thuận không còn phù hợp, không hiệu quả. Điều 43 đề cập trách nhiệm xử lý vi phạm, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế.
Các quy định này góp phần khắc phục tình trạng coi trọng số lượng thỏa thuận được ký kết mà chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng và kết quả thực hiện. Hiệu quả hợp tác quốc tế cần được đánh giá bằng những kết quả cụ thể như khả năng huy động nguồn lực, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực quản trị, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và cải thiện đời sống nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật để hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu quốc gia, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong bối cảnh đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường hòa bình, tranh thủ các điều kiện thuận lợi và huy động nguồn lực phục vụ phát triển.
Việc xây dựng Luật không đơn thuần là hoàn thiện các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ký kết, mà còn góp phần đổi mới tư duy quản lý hoạt động đối ngoại theo hướng chủ động, linh hoạt, hiệu quả và có trách nhiệm.
Những nội dung được thể hiện trong dự thảo cho thấy nỗ lực của cơ quan soạn thảo trong việc mở rộng không gian hợp tác, phát huy vai trò của các bộ, ngành, địa phương, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ số và nâng cao trách nhiệm tổ chức thực hiện, đồng thời bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước, bảo đảm an ninh và lợi ích quốc gia.
Khi được tiếp tục hoàn thiện và thông qua, Luật Thỏa thuận quốc tế được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, đưa các cam kết hợp tác thành những kết quả phát triển thực chất.
Chủ động hội nhập, hợp tác sâu rộng không chỉ là yêu cầu của thời đại mà còn là lựa chọn chiến lược để Việt Nam tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy nội lực, khai thác hiệu quả ngoại lực, bảo vệ Tổ quốc và phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
| Học viện Ngoại giao tổ chức Hội thảo khoa học cho sinh viên về Luật quốc tế Ngày 15/12, khoa Luật quốc tế, Học viện Ngoại giao tổ chức Hội thảo khoa học cho sinh viên về Luật quốc tế lần thứ ... |
| Quyền tiếp cận nước sạch trong pháp luật quốc tế và Việt Nam Nước là một nhu cầu thiết yếu của con người, nhưng phải đến tháng 7/2010, quyền tiếp cận nước sạch mới được Liên hợp quốc ... |
| Đại sứ Phạm Lan Dung: Hội nghị toàn thể lần thứ 10 của AsianSIL khẳng định cam kết của Việt Nam trong thúc đẩy luật pháp quốc tế ở khu vực Đại sứ, TS. Phạm Lan Dung khẳng định, việc Việt Nam sẽ chủ trì tổ chức Hội nghị toàn thể lần thứ 10 của AsianSIL ... |
| Thúc đẩy định hình các giải pháp pháp lý ở châu Á Ngày 9/10, Hội nghị toàn thể lần thứ 10 của Hội Luật quốc tế châu Á (AsianSIL) được tổ chức tại Hà Nội với chủ ... |
| Bộ Ngoại giao tổ chức Hội nghị tham vấn chính sách tại dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi) Sáng 27/1, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao phối hợp với Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội tổ chức ... |

