![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo quốc tế về Kinh tế phát triển lần thứ nhất với chủ đề “Phát triển kinh tế và Chuyển đổi bền vững”. (Ảnh: Thanh Mai) |
Những biến động về khí hậu, tài nguyên, năng lượng, dân số, công nghệ, địa chính trị và chuỗi giá trị toàn cầu đang đặt ra yêu cầu mới đối với mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia. Với Việt Nam, bài toán càng cấp thiết khi hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Đây cũng là trọng tâm của Hội thảo quốc tế về Kinh tế phát triển lần thứ nhất với chủ đề “Phát triển kinh tế và Chuyển đổi bền vững” (EDAST 2026), do Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (UEB) phối hợp với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT).
Với 2 phiên toàn thể, 5 báo cáo chủ đạo và 1 tọa đàm bàn tròn, Hội thảo tạo không gian trao đổi học thuật, đối thoại chính sách về những lựa chọn phát triển của Việt Nam trước yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và có khả năng thích ứng.
Động lực tăng trưởng cũ dần thu hẹp
![]() |
| GS.TS. Roberto F. Rañola, Jr., Hiệu trưởng Đại học Cabuyao, Philippines. (Ảnh: Thanh Mai) |
Một trong những vấn đề nổi bật tại EDAST 2026 là nguy cơ Việt Nam khó duy trì tốc độ tăng trưởng cao nếu không tạo ra những chuyển đổi mang tính cơ cấu.
Từ kinh nghiệm công nghiệp hóa của Hàn Quốc, GS.TS. Keunjae Lee, Đại học Quốc gia Pusan (Hàn Quốc), phân tích quá trình đưa một nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người khoảng 100 USD trở thành quốc gia có thu nhập trên 33.000 USD. Từ đó, ông chỉ ra một loạt rủi ro Việt Nam cần sớm xử lý, gồm năng suất có dấu hiệu chững lại, già hóa dân số, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, năng lực doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu và chất lượng thể chế chưa theo kịp tốc độ phát triển.
Điều đó cho thấy thách thức không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng, mà là thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng. Khi lợi thế về lao động, tài nguyên hay mở rộng đầu tư dần thu hẹp, nền kinh tế phải dựa nhiều hơn vào năng suất, nguồn nhân lực và khả năng đổi mới.
Theo các phân tích tại Hội thảo, để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần chuyển đổi đồng bộ về năng suất, nguồn nhân lực, năng lực công nghiệp trong nước, vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và chất lượng thể chế. Đây cũng là điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân thực sự phát huy vai trò là một động lực của nền kinh tế.
Tăng trưởng phải dựa nhiều hơn vào chất lượng
![]() |
| PGS.TS. Hoàng Khắc Lịch, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại Hội thảo. (Ảnh: Thanh Mai) |
PGS.TS. Hoàng Khắc Lịch, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng nghiên cứu kinh tế không chỉ nhằm giải thích các vấn đề phát triển, mà cần cung cấp bằng chứng khoa học, đề xuất giải pháp và tạo lập không gian đối thoại chính sách.
Theo ông, giá trị của các nghiên cứu nằm ở khả năng kết nối nhiều cách tiếp cận, từ chuyển đổi kinh tế, quản trị tài nguyên, hệ thống lương thực thực phẩm, hành động khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học đến quản trị và năng lực thực thi.
Cách tiếp cận này cho thấy tăng trưởng không thể chỉ được đo bằng tốc độ mở rộng quy mô nền kinh tế, mà còn phải được nhìn qua chất lượng, hiệu quả và khả năng duy trì trong dài hạn.
Với Việt Nam, điều đó đồng nghĩa với việc chuyển từ mô hình dựa nhiều vào gia tăng đầu vào sang mô hình tạo ra giá trị cao hơn từ mỗi đơn vị vốn, lao động và tài nguyên. Năng suất phải trở thành yếu tố trung tâm, trong khi doanh nghiệp trong nước cần từng bước tiến lên những khâu có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị.
Chuyển đổi xanh phải gắn với nguồn lực
![]() |
| TS. Mark M. Lundy đến từ CIAT. (Ảnh: Thanh Mai) |
Một nội dung quan trọng khác tại Hội thảo là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và chuyển đổi xanh. TS. Mark M. Lundy (CIAT) cho rằng, các chương trình về hệ thống lương thực thực phẩm, biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học thường được triển khai theo những lộ trình riêng biệt, trong khi các vấn đề này có quan hệ chặt chẽ và cần được xử lý bằng cách tiếp cận liên ngành.
Theo ông, để quá trình chuyển đổi tạo ra thay đổi thực chất, ba điều kiện phải được đáp ứng đồng thời: định hướng chính sách thống nhất, năng lực thực thi và nguồn lực tài chính. Nếu thiếu một trong ba yếu tố, kết quả có thể chỉ dừng lại ở một kế hoạch tốt hơn, thay vì tạo ra chuyển biến thực tế.
Đây là điểm đặc biệt đáng chú ý với Việt Nam. Chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là bài toán kinh tế liên quan trực tiếp đến phân bổ vốn, công nghệ, năng lực cạnh tranh và thể chế.
Các tham luận tại Hội thảo cũng nhấn mạnh tài nguyên thiên nhiên chỉ có thể trở thành nền tảng phát triển dài hạn khi được quản trị minh bạch, hạch toán đầy đủ và đặt trong khuôn khổ thể chế phù hợp. Tương tự, các cam kết về khí hậu, hệ thống lương thực thực phẩm hay đa dạng sinh học chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với nguồn lực và cơ chế triển khai cụ thể.
Thể chế quyết định khả năng chuyển hóa chính sách
![]() |
| Các diễn giả tham gia Hội thảo EDAST 2026. (Ảnh: Thanh Mai) |
Tại tọa đàm bàn tròn, các ý kiến tiếp tục làm rõ một yêu cầu xuyên suốt: khoảng cách giữa chủ trương và kết quả thực tế chỉ có thể được thu hẹp khi chính sách, năng lực và tài chính được kết nối trong cùng một cơ chế hành động. Quá trình chuyển đổi còn đòi hỏi khả năng phối hợp liên ngành, tổ chức đối thoại và duy trì hợp tác đủ lâu để tạo ra thay đổi.
Nếu năng suất, công nghệ và nguồn nhân lực là những động lực trực tiếp của tăng trưởng, thì thể chế quyết định mức độ các động lực đó có thể phát huy hiệu quả. Một chính sách tốt nhưng thiếu nguồn lực, thiếu khả năng thực thi hoặc thiếu phối hợp vẫn khó tạo ra kết quả như kỳ vọng.
Từ các thảo luận tại EDAST 2026, có thể thấy bài toán của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới không còn chỉ là tăng trưởng nhanh hơn, mà là tăng trưởng dựa trên nền tảng nào và với chất lượng ra sao.
Để tiến tới mục tiêu thu nhập cao, Việt Nam cần đồng thời nâng năng suất, phát triển nguồn nhân lực, tăng năng lực đổi mới sáng tạo, củng cố doanh nghiệp trong nước, quản trị hiệu quả tài nguyên và tiếp tục hoàn thiện chất lượng thể chế.
Thách thức lớn nhất vì thế không chỉ là huy động thêm bao nhiêu vốn, lao động hay tài nguyên, mà là sử dụng các nguồn lực đó hiệu quả đến đâu. Đây cũng là yếu tố quyết định khả năng Việt Nam bước lên một nấc thang phát triển cao hơn.
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ I): 'Lá chắn' bảo vệ doanh nghiệp Khi doanh nghiệp xác định đích đến là sử dụng năng lượng hiệu quả để tạo ra nhiều giá trị hơn thì mỗi kilowatt giờ ... |
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ II): ‘Đòn bẩy’ cho nền kinh tế xanh Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhất để bảo đảm an ninh năng lượng ... |
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (kỳ III): Kinh nghiệm của quốc tế Nhu cầu năng lượng ngày càng tăng đang buộc nhiều nền kinh tế phải mở rộng cách nhìn về nguồn lực năng lượng: Không chỉ ... |
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (Kỳ IV): Việt Nam gỡ nút thắt, khơi thông nguồn lực Khi doanh nghiệp ngày càng có động lực tiết kiệm năng lượng, định hướng chiến lược và mục tiêu quốc gia đã được xác lập, ... |
| Từ tiết kiệm năng lượng đến động lực tăng trưởng kinh tế (Kỳ V): Tạo dư địa tăng trưởng trong kỷ nguyên mới Nhu cầu năng lượng ngày càng lớn của Việt Nam đang đặt ra yêu cầu phát triển thêm nguồn cung, sử dụng hiệu quả để ... |




