Bạn đã biết ý nghĩa những tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử?

QT
TGVN. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long-Hà Nội có nhiều tên gọi khác nhau được ghi chép trong sử sách Nhà nước Việt Nam và chia thành hai loại: chính thức và không chính thức, theo thứ tự thời gian.
Bạn đã biết ý nghĩa những tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử?
Một góc phố cổ Hà Nội khi lên đèn. (Nguồn: TTXVN)

Thăng Long-Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long-Hà Nội có nhiều tên gọi khác nhau được ghi chép trong sử sách Nhà nước Việt Nam và chia thành hai loại: chính thức và không chính thức, theo thứ tự thời gian.

Những tên gọi chính thức của Thăng Long-Hà Nội qua chiều dài lịch sử

Tên chính thức là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

Tống Bình: Thành Tống Bình là trị sở của những kẻ đô hộ phương Bắc thời Tùy (581-618), Đường (618-907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy, chúng mới chuyển đến Tống Bình.

Long Đỗ: Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 mới đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó, trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

Vào năm Quang Thái thứ 10 (năm 1397) đời vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hóa.

Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: "Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi." Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

Đại La: Đại La hay Đại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao lấy Kinh Đô Thăng Long xưa. Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có "Tam trùng thành quách." Trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành.

Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La. Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ (năm 1010) viết: "... Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất..." (Sách “Toàn thư”, Tập 1, Hà Nội 1993, tr 241).

Thăng Long (Rồng bay lên). Đây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết lý do hình thành tên gọi này như sau: "Mùa Thu, năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long" (Sách “Toàn thư”, Tập 1, Hà Nội 1993, tr 241).

Đông Đô: Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết: "Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Hồ Hán Thương coi phủ đô hộ là Đông Đô" (Sách “Toàn thư”, Tập I, Hà Nội 1993, tr192). Hồ Quý Ly lên ngôi đóng đô ở Tây Đô (Thanh Hóa), Thăng Long là Đông Đô.

Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục chú thích: "Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô" (Sách “Cương mục”, Tập 2, Hà Nội 1998, tr700).

Đông Quan: Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là "cửa quan phía Đông" của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan.

Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: "Tháng 12 năm Mậu Tý (1408), Giản Định đế bảo các quân "Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc phá được chúng" (Sách “Toàn thư”, Tập 2, Hà Nội 1993, tr224).

Đông Kinh: Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" viết về sự ra đời của tên “Đông Kinh” như sau: "Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15, vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh" (Sách “Toàn thư”, Tập 2, Hà Nội 1993, tr293).

Bắc Thành: “Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ-Quang Trung 1787-1802) vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành. Đầu đời Gia Long đặt “Tổng trấn Bắc Thành," đem phủ Phụng Thiên lệ vào” (Nguyễn Vinh Phúc-Trần Huy Bá, Đường phố Hà Nội, Hà Nội 1979, tr12).

Thăng Long (Thịnh vượng lên): Sách "Lịch sử Thủ đô Hà Nội" viết: "Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ "Long" là Rồng thành chữ "Long" là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ "Long" là "Rồng" [Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử Thủ đô Hà Nội, Hà Nội 1960, tr81].

Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại quá lớn rộng.

Hà Nội: Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội viết: "Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội" [Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội. Hà Nội 1960, Tr82].

Những cái tên trong văn học của Thăng Long-Hà Nội

Trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ...,thành Thăng Long-Hà Nội được gắn với nhiều tên gọi khác nhau.

Trường An: Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 trước công nguyên-III sau công nguyên) và Đường (618-907). Do đó, Tràng An được các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô, từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long.

Thí dụ: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An."

Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long.

Phượng Thành (Phụng Thành): Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh (người Bắc Ninh) có bài phú nôm rất nổi tiếng: “Phượng Thành xuân sắc phú” (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) ở Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó) đóng trị sở. Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long-Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838-1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

“Long Biên tài hướng Phượng thành hồi

Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!”

Dịch nghĩa:

“Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.

Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi về triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay."

Thành Long Biên ở đây, vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Đức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

Long Thành: Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc.

Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa-Ngọc Hồi của vua Quang Trung. Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành).

Hà Thành: Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng...

Hoàng Diệu: Ngay sau Cách mạng Tháng Tám-1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Bạn đã biết ý nghĩa những tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử?
Biểu trưng chào mừng 1.010 năm Thăng Long-Hà Nội. (Nguồn: TTXVN)

Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long-Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ-Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Chẳng thanh lịch cũng thể người Thượng Kinh). Kinh Kỳ, tên này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến).

Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như "Ăn Bắc, mặc Kinh." Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long.

Loại tên "không chính quy" của Thăng Long-Hà Nội còn được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao...

Ý nghĩa tên gọi Hà Nội

Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên (vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành.

Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xóa bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 tỉnh, trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ương.

Lúc đó, Hoài Đức trở thành một trong bốn phủ họp thành tỉnh Hà Nội. Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ. Hà Nội có nghĩa là phía trong sông. Vì trong thực tế, tỉnh mới này nằm bên trong 3 con sông Hồng, sông Nhuệ và sông Đáy. Tỉnh Hà Nội có 4 phủ là:

- Phủ Hoài Đức gồm 3 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm

- Phủ Thường Tín gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên

- Phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện: Sơn Minh (nay là Ứng Hòa), Hoài An (nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức), Chương Đức (nay là Chương Mỹ-Thanh Oai)

- Phủ Lý Nhân gồm 5 huyện: Nam Xang (nay là Lý Nhân), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục.

Tên gọi Hà Nội bắt đầu có từ năm 1831. Như vậy, tỉnh Hà Nội so với nay gồm thành phố Hà Nội, nửa phía đông tỉnh Hà Tây (chính là tỉnh Hà Đông thời Pháp thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam, rõ ràng nằm kẹp giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ.

Cũng từ đó, thành Hà Nội cũng được coi thành tỉnh và con đường đi từ Hàng Bông qua Mang Cá (công trình phòng thủ hình tam giác xây trước cửa thành) đi vào Cửa Đông của toà thành được gọi là phố "Cửa Đông Cổng tỉnh" nay là phố Đường Thành.

'Hà Nội reo vang reo' - Dự án ý nghĩa qua chiếc hộp đồ chơi

'Hà Nội reo vang reo' - Dự án ý nghĩa qua chiếc hộp đồ chơi

TGVN. 'Hà Nội reo vang reo' được lấy cảm hứng từ sự hồn nhiên và khả năng lạc quan trong mọi hoàn cảnh của các ...

Thưởng thức các kiệt tác của danh họa Raphael ngay tại Hà Nội

Thưởng thức các kiệt tác của danh họa Raphael ngay tại Hà Nội

TGVN. Đại sứ quán Italy tại Hà Nội sẽ giới thiệu một triển lãm kỹ thuật số mang tên “Magister Raffaello” nhân dịp kỷ niệm ...

Những lời nói làm nên lịch sử: Hồ Chí Minh và lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến

Những lời nói làm nên lịch sử: Hồ Chí Minh và lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến

TGVN. Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống Thực dân Pháp đã đi vào lịch sử Việt Nam như một tài liệu chính trị, ...

(theo Vietnamplus)

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm

Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Houston hướng về đồng bào miền Trung bị lũ lụt

Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Houston hướng về đồng bào miền Trung bị lũ lụt

Ngày 27/10, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Houston tổ chức quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt.
Dự báo thời tiết: Bão số 9 suy yếu thành áp thấp nhiệt đới, khu vực Nghệ An đến Quảng Bình mưa rất to

Dự báo thời tiết: Bão số 9 suy yếu thành áp thấp nhiệt đới, khu vực Nghệ An đến Quảng Bình mưa rất to

Chiều nay (28/10), sau khi đi vào đất liền các tỉnh từ Đà Nẵng đến Phú Yên bão số 9 đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới.
Mỹ-Nga với giải trừ quân bị hạt nhân: Cũ khó giữ, mới khó có !

Mỹ-Nga với giải trừ quân bị hạt nhân: Cũ khó giữ, mới khó có !

Đàm phán Mỹ-Nga về gia hạn Hiệp định New START không có tiến triển, Nga bất ngờ đưa ra đề nghị mới cho Mỹ. Thực chất là gì? TG&VN bình ...
XSMT 29/10 - Trực tiếp kết quả xổ số miền Trung hôm nay - SXMT 29/10/2020 - dự đoán XSMT 30/10

XSMT 29/10 - Trực tiếp kết quả xổ số miền Trung hôm nay - SXMT 29/10/2020 - dự đoán XSMT 30/10

XSMT 29/10. SXMT 29/10. KQXSMT. Trực tiếp kết quả xổ số kiến thiết miền Trung nhanh nhất hôm nay ngày 29 tháng 10 năm 2020. KQSXMT.
Thư/ điện thăm hỏi của Lãnh đạo Mông Cổ và Campuchia về tình hình lũ lụt ở miền Trung

Thư/ điện thăm hỏi của Lãnh đạo Mông Cổ và Campuchia về tình hình lũ lụt ở miền Trung

Được tin lũ lụt ở miền Trung Việt Nam gây thiệt hại lớn, Lãnh đạo Mông Cổ và Campuchia đã gửi Thư/ điện thăm hỏi đến Lãnh đạo Việt Nam.
Về vùng cao Tiên Yên, Quảng Ninh ngắm ruộng bậc thang rực rỡ mùa lúa chín

Về vùng cao Tiên Yên, Quảng Ninh ngắm ruộng bậc thang rực rỡ mùa lúa chín

Cứ mỗi độ Thu về, những thửa ruộng bậc thang ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh lại khoác lên mình một màu vàng óng của lúa chín.
Bộ Công Thương: Đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu ứng phó bão số 9

Bộ Công Thương: Đảm bảo nguồn cung hàng hóa thiết yếu ứng phó bão số 9

Các tỉnh đã triển khai phương án cung ứng, dự trữ hàng hóa thiết yếu, đặc biệt chú trọng công tác dự trữ tại chỗ để ứng phó với bão ...
Đại sứ quán và cộng đồng người Việt tại Ba Lan quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt

Đại sứ quán và cộng đồng người Việt tại Ba Lan quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt

Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan đã tổ chức quyên góp, giúp đồng bào các tỉnh miền Trung bị thiệt hại do mưa lũ.
Tranh chấp Nagorno-Karabakh: Iran cảnh báo các bên tham chiến về hành động không thể dung thứ

Tranh chấp Nagorno-Karabakh: Iran cảnh báo các bên tham chiến về hành động không thể dung thứ

Sáng kiến của Iran về một giải pháp lâu dài cho tranh chấp Nagorno-Karabakh sẽ được thảo luận tại Moscow và Yerevan trong những ngày tới.
Mỹ-Ấn Độ họp Đối thoại 2+2: Thể chế hóa hợp tác, vững vàng trước khó khăn

Mỹ-Ấn Độ họp Đối thoại 2+2: Thể chế hóa hợp tác, vững vàng trước khó khăn

Đối thoại 2+2 kết thúc ngày 27/10 chứng kiến quan hệ hợp tác Mỹ-Ấn Độ ngày một khăng khít trước những diễn biến mới ở khu vực và thế giới.
Về vùng cao Tiên Yên, Quảng Ninh ngắm ruộng bậc thang rực rỡ mùa lúa chín

Về vùng cao Tiên Yên, Quảng Ninh ngắm ruộng bậc thang rực rỡ mùa lúa chín

Cứ mỗi độ Thu về, những thửa ruộng bậc thang ở huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh lại khoác lên mình một màu vàng óng của lúa chín.
'Mãn nhãn' với cảnh sắc mùa Thu trên khắp thế giới

'Mãn nhãn' với cảnh sắc mùa Thu trên khắp thế giới

Ngắm nhìn những con đường lá vàng, rừng cây thay lá hay mặt nước hồ trong xanh, chắc chắn bạn sẽ thấy, mùa Thu chính là mùa đẹp nhất trong năm.
Đắm mình trong cảnh đẹp mùa Thu ngập sắc vàng ở châu Âu

Đắm mình trong cảnh đẹp mùa Thu ngập sắc vàng ở châu Âu

Cảnh đẹp mùa Thu châu Âu có nét riêng biệt, không còn sắc xanh của mùa Hè mà thay vào đó là màu vàng chủ đạo của lá rụng.
Trải nghiệm làm dân miền Tây 'chính hiệu' tại Vườn quốc gia Tràm Chim

Trải nghiệm làm dân miền Tây 'chính hiệu' tại Vườn quốc gia Tràm Chim

Ngoài cảnh quan thiên nhiên, Vườn quốc gia Tràm Chim còn hút khách du lịch bằng các hoạt động văn hóa bản địa của người dân miền sông nước.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Chấm phá văn học cổ đại Hy Lạp (Kỳ 3)

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Chấm phá văn học cổ đại Hy Lạp (Kỳ 3)

Văn học cổ đại Hy Lạp - La Mã thể hiện chủ nghĩa nhân văn, nghĩa là thừa nhận giá trị con người, thiết tha với cuộc sống trần gian.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Chấm phá văn học cổ đại Hy Lạp (Kỳ 2)

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Chấm phá văn học cổ đại Hy Lạp (Kỳ 2)

Tác phẩm thứ hai của văn học cổ đại Hy Lạp tương truyền của Homeros là Odysseia. Vở kịch Odysseia được coi là vở thành công nhất của sân khấu cổ Hy Lạp.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Chấm phá văn học cổ đại Hy Lạp (Kỳ 1)

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Chấm phá văn học cổ đại Hy Lạp (Kỳ 1)

Văn học cổ đại Hy Lạp - La Mã thể hiện chủ nghĩa nhân văn, nghĩa là thừa nhận giá trị con người, thiết tha với cuộc sống trần gian.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Phác họa văn hóa phương Tây (kỳ cuối)

Nhà văn hóa Hữu Ngọc: Phác họa văn hóa phương Tây (kỳ cuối)

Văn hóa phương Tây có ba yếu tố: chủ nghĩa nhân văn cổ Hy Lạp - La Mã, yếu tố Do Thái - Kito giáo và chủ nghĩa duy lý về khoa học.
Phiên bản di động