![]() |
| Bìa cuốn sách "Quá trình xác lâp và thực thi chủ quyền cúa Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp" mang nhiều tư liệu quý. (Nguồn: NXB Khoa học xã hội) |
1.
Lịch sử việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp là lịch sử của quá trình nước Pháp công nhận và chịu trách nhiệm kế thừa các triều đại phong kiến Việt Nam, thực thi và củng cố hiệu quả hơn chủ quyền của Việt Nam ở hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lịch sử này tường minh và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của công pháp quốc tế.
Quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa trước đó hàng thế kỷ đã được lưu giữ trong các văn bản, dữ liệu có ý nghĩa pháp lý và đặc biệt là trong việc lập ra các Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động hàng năm theo lệnh của các Chúa Nguyễn. Thời triều Nguyễn, vua Gia Long đặt bia chủ quyền lần thứ nhất tại Quần đảo Hoàng Sa năm 1816. Vua Minh Mạng và chính quyền Pháp đặt bia chủ quyền lần thứ hai vào năm 1838.
![]() |
| “Đại Nam nhất thống toàn đồ” do Vua Minh mạng công bố 1838. Hai quần đảo ở Biển Đông ghi rõ là “Hoàng Sa” và “Vạn lý Trường Sa”. (Ảnh tư liệu) |
| Ngoài các phần giới thiệu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của cuốn sách Quá trình xác lâp và thực thi chú quyền cúa Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp gồm 4 chương. Chương 1: Tổng quan về chủ quyền của Việt Nam đối với hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chương 2: Nước Pháp công nhận quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam tại hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chịu trách nhiệm kế thừa và tiến hành những hành động pháp lý khắng định chủ quyền của Việt Nam. Chương 3: Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa thời thuộc Pháp: Giai đoạn 1909-1938. Chương 4: Hoàng Sa và Trường Sa sau Thế chiến II. |
Cũng năm 1838, vua Minh Mạng cho in bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ. Đây là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn thể hiện rõ cương vực Việt Nam như hiện nay và những hiểu biết tường tận về hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản đồ này có tọa độ địa lý mô phỏng thực địa, ghi rõ hai địa danh “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa”, khẳng định vững chắc lập trường của nhà Nguyễn về chủ quyền biển đảo. Đại Nam nhất thống toàn đồ được sử dụng là một trong những cơ sở pháp lý không thể bác bỏ để người Pháp kế thừa và bảo vệ/bảo hộ chủ quyền biển đảo của Đại Nam sau khi Hiệp ước Patenôtre được ký với triều đình Huế năm 1884.
Từ năm 1930 đến năm 1933, chính quyền Pháp ở thuộc địa đã hoàn tất chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường Sa, như ngày nay thế giới được biết. Trong hồ sơ ngoại giao quốc tế và các nước có liên quan, ngay từ ngày 23/9/1930, văn bản Thông cáo ngoại giao của Toàn quyền Đông Dương ghi rõ: “Từ ngày 13/4/1930 nước Pháp chính thức đặt chủ quyền của An Nam đối với Quần đảo Trường Sa (An Nam’s sovereignty over Spratlys islands) dưới sự bảo hộ của Pháp”.
Ngày 19/7/1933, Pháp ra thông báo quốc tế, đăng trên Công báo nước Cộng hòa Pháp ngày 26/7/1933, tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa: “Chủ quyền các đảo nói trên và các đảo phụ thuộc từng đảo này, từ nay trở đi thuộc về nước Pháp” (Les îles et îlost susindiqués relèvent désormais de la souveraiineté française). Kèm theo đó là danh sách liệt kê tên, tọa độ các cụm đảo, chia Quần đảo Trường Sa thành 6 cụm đảo, ghi rõ thời điểm chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền: Trường Sa Lớn - ngày 13/4/1930; các đảo An Bang, Ba Bình, nhóm Song Tử gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây, Loại Ta và Thị Tứ được chiếm lĩnh và tuyên bố chủ quyền từ ngày 7/4/1933 đến ngày 12/4/1933. Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn đối với chủ quyền của Việt Nam với Quần đảo Trường Sa trong công pháp quốc tế.
![]() |
| Thông báo ngày 19/7/1933 của Bộ Ngoại giao hải quân Pháp về việc chiếm hữu và thiết lập chủ quyền của Việt Nam các đảo trên quần đảo Trường Sa, được công bố trên “Công báo nước Cộng hoà Pháp” ngày 26/7/1933. Chính quyền Pháp chia toàn bộ Trường Sa thành 6 cụm đảo để quản lý. |
Năm 1949, theo Hiệp ước Élysee, chính quyền “Quốc gia Việt Nam” được thành lập với tư cách là quốc gia độc lập thuộc khối Liên hiệp Pháp; Bảo Đại là Quốc trưởng. Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp trao lại toàn quyền quản lý hai quần đảo này cho Việt Nam. Sự kiện này có ý nghĩa đặt biệt quan trọng với các thế hệ người Việt kế tiếp bảo vệ chủ quyền biển đảo. Từ đây, người Việt Nam chính thức quản lý toàn bộ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kế tục truyền thống chủ quyền các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã khởi lập từ quá khứ.
Ngày 7/9/1951, đã diễn ra Hội nghị San Francisco. Phía Việt Nam cùng dự Hội nghị cùng với đại diện của 50 quốc gia. Kết thúc hội nghi, Hòa ước với Nhật ngày 8/9/1951 đã được ký. Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn F, ghi rõ: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ “Quốc gia Việt Nam” long trọng tuyên bố “chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên hai Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” và đây là “cơ hội để dập tắt các mầm mống tranh chấp sau này”. Tất cả 50 phái đoàn đã nghe lời tuyên bố của Việt Nam. Không đại diện quốc gia nào có ý kiến phản đối. Cộng đồng quốc tế đã biểu thị sự đồng thuận với lập trường của Việt Nam trên thực tế - một lần nữa Hoàng Sa, Trường Sa đã được tuyên bố thuộc chủ quyền không tranh chấp của Việt Nam. Tuyên bố của Việt Nam vẫn đang được lưu giữ tại Hồ sơ ngoại giao của các quốc gia tham dự Hội nghị San Francissco năm 1951 và tại các trung tâm thông tin lớn trên thế giới.
![]() |
| Chữ “Đông hải” trên Cao đỉnh, một trong những “Cửu đỉnh” hiện lưu giữ tại Huế - một dạng văn bia truyền lại cho hậu thế, ghi nhớ công lao của Nhà Nguyễn và triều Minh Mạng về thành tựu chinh phục Biển Đảo Việt Nam. Các đỉnh khác ghi các thành tựu về đào kênh rạch, trồng lúa nước… ở Nam Bộ. (Ảnh tư liệu) |
2.
Từ khi vương triều Gia Long đặt bia chủ quyền tại Hoàng Sa năm 1816 đến khi kết thúc chế độ thực dân ở Việt Nam, chính quyền Pháp tại Hà Nội luôn thể hiện lập trường khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam trước những tham vọng của người Trung Quốc, người Nhật Bản và phần nào đó là người Anh.
Trong giai đoạn Việt Nam là thuộc địa của Pháp, chính phủ Pháp và các vương triều phong kiến An Nam đã thực thi nhiều hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, pháp lý - chiếm hữu thực tế, tuyên bố chủ quyền, phân vùng các cụm đảo và thiết lập chế độ đồn trú tại một số đảo lớn ở Trường Sa để củng cố một cách thiết thực chủ quyền tại Hoàng Sa. Suốt thời kỳ thuộc Pháp, trên quần đảo Hoàng Sa, các hoạt động khẳng định chủ quyền được thực thi liên tục và có hiệu quả.
Đơn vị hành chính của từng địa phương (cụm đảo Nguyệt Thiềm, cụm đảo An Vĩnh) thuộc quần đảo được thiết lập và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Vị trí hành chính của Quần đảo Hoàng Sa trong khu vực Trung Kỳ được xác định từ năm 1933 là đơn vị hành chính thuộc được tỉnh Bà Rịa quản lý. Chế độ công chức, quân đội đồn trú cùng với các chế độ tài chính, lương bổng, thưởng phạt... được thực thi. Các chế độ thuế, khai thác tài nguyên, quan hệ với ngư dân nước ngoài... được duy trì và kiểm soát ở cấp quốc gia. Các trạm khí tượng thiên văn và các trạm hải đăng được xây dựng tương đồng với trình độ khu vực và quốc tế trên đảo Boisée (Phú Lâm) và trên đảo Pattle (Hoàng Sa).
Tại Hoàng Sa, chùa do vua Minh Mạng xây từ năm 1835 được tu bổ và tôn tạo. Dù cư dân không đông nhưng trường học, khu dân cư, khu công chức... cũng được chú ý xây dựng. Bia chủ quyền của Cộng hòa Pháp và Vương quốc An Nam tại Hoàng Sa được đặt lần thứ hai vào năm 1938. Hoàng Sa chỉ bị mất về tay Nhật Bản trong những năm Thế chiến II, từ năm 1938 đến năm 1946, khi nước Pháp cũng bị phát xít Đức xâm lược và đô hộ. Ngay cả khi quyền lực của Pháp ở Việt Nam bị lung lay, chính quyền Pháp vẫn chú ý tích cực đến vấn đề chủ quyền biển đảo. Trên khía cạnh pháp lý, chưa khi nào người Pháp từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
![]() |
| Bia chủ quyền tại Hoàng Sa do chính quyền Pháp và vương triều Minh Mạng dựng tại Hoàng Sa năm 1838. Bia ghi rõ: “Cộng hòa Pháp - Vương quốc An Nam - Quần đảo Hoàng Sa 1816 - Đảo Hoàng Sa 1838”. (Ảnh tư liệu) |
![]() |
| Một trong những ấn phẩm nghiên cứu của Viện Hải dương học và thuỷ sản Đông Dương năm 1927 “Ghi chép hình dạng rạn san hô và chế độ gió mùa ở Hoàng Sa” do tiến sĩ Armand Krempt và cộng sự nghiên cứu tại Quần đảo Hoàng Sa.(Ảnh tư liệu) |
3.
Việt Nam luôn lựa chọn giải pháp hòa bình cho vấn đề hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và khẳng định giải quyết mọi tranh chấp cần cǎn cứ vào Công ước UNCLOS 1982. Việt Nam đã xây dựng một bộ hồ sơ đồ sộ tập hợp nhiều tư liệu lịch sử, địa lý và pháp lý khẳng định sự tồn tại của quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trên các bản đồ quốc gia từ xa xưa và xác nhận sự sáp nhập các lãnh thổ đó vào bộ máy hành chính Việt Nam thời thuộc địa.
GS. Philippe Le Failler, Trưởng đại diện Viện Viễn Ðông bác cổ Pháp tại Hà Nội, trong Lời giới thiệu cho cuốn sách viết: “Trong phần diễn giải của mình, ông Hồ Sĩ Quý đã chứng minh bằng các tài liệu rằng, giai đoạn thuộc địa không ảnh hưởng đáng kể đến sự duy trì đặc quyền của Việt Nam đối với các lãnh thổ và các đảo thuộc chủ quyền. Bằng việc đối chiếu các nguồn và các nghiên cứu trước đây của cả Việt Nam lẫn nước ngoài, Giáo sư Hồ Sĩ Quý đã làm chủ được vấn đề và đưa ra lập luận vững chắc về quyền chủ quyền của Việt Nam đúng như hiện nay”.
Ông cũng viết: "Việc áp dụng luật pháp quốc tế đòi hỏi các bên có liên quan trước hết phải từ bỏ áp đặt sức mạnh bạo lực cho các yêu sách quốc gia và mỗi bên phải có thiện chí để tuân theo phán quyết của tòa án quốc tế”.
| GS. TS. Hồ Sĩ Quý, sinh năm 1953, là nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin khoa học xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông đã có nhiều nǎm nghiên cứu về Hoàng Sa, Trường Sa và đã có những công bố được dư luận quan tâm. |
| Ra mắt cuốn sách song ngữ Thái - Việt 'Bác Hồ ở Thái Lan' Ngày 18/5, tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tỉnh Udon Thani, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Khon Kaen, Thái Lan, ... |
| Ra mắt hai cuốn sách đặc biệt về Bác Hồ Nhà xuất bản (NXB) Giáo dục Việt Nam mong muốn những cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ trở thành tài liệu quý ... |
| 'Lời cỏ hát': Cuốn sách song ngữ góp phần lan tỏa văn hóa đọc tới học sinh Cuốn sách “Lời cỏ hát” của cô nữ sinh Võ Nguyễn An Vy (sinh năm 2008), học sinh trường Perkiomen High School (Mỹ) đã thể ... |
| Ra mắt cuốn sách 'Điện Biên Phủ' bằng tiếng Arab Ngày 19/11, tại thủ đô Algiers, Algeria đã diễn ra Lễ ra mắt cuốn sách Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng ... |
| Xây dựng cơ sở dữ liệu Big Data cho sách giáo khoa Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (NXBGDVN) đang xây dựng cơ sở dữ liệu Big Data cho sách giáo khoa (SGK), sách bài tập ... |





