Từ Đà Lạt đến Fontainebleau và Tạm ước 14/9 (kỳ I)

06/05/2020 11:23
Đại sứ Hoàng Vĩnh Thành
06/05/2020 11:23

TGVN. Sau ngày Hiệp định sơ bộ Việt Nam - Pháp (6/3/1946) được ký kết, thông qua Ủy viên Cộng hòa Jean Sainteny, Cao ủy Pháp Thierry d’Argenlieu đề nghị được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để trao đổi về việc thực thi các quy định của Hiệp định sơ bộ. 

TIN LIÊN QUAN
tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh - kết hợp 'đánh và đàm' trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i Hiệp định sơ bộ 6/3: Kỳ tích khởi đầu lịch sử đấu tranh ngoại giao của nước Việt Nam mới (Kỳ I)
tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i
Cao ủy Thierry d’Argenlieu đón Hồ Chủ tịch trên vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946.

Những bất đồng căn bản

Cuộc gặp diễn ra trên tuần dương hạm Emile Bertin tại Vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946. Tại cuộc gặp, Hồ Chủ tịch và Cao ủy d’Argenlieu đã thống nhất một số điểm: Trung tuần tháng 4/1946 một phái đoàn Quốc hội Việt Nam sẽ thăm hữu nghị Quốc hội Pháp; Cùng thời gian đó sẽ có một cuộc họp trù bị giữa hai đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam và Pháp tại Đà Lạt; Sau cuộc trù bị, nửa cuối tháng 5/1946 sẽ có một đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang Pháp để tiến hành cuộc thương lượng chính thức với phía Pháp tại Paris. Cũng nhân dịp này, Chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp.

Nhận rõ ý đồ của Cao ủy d’Argenlieu trì hoãn cuộc đàm phán chính thức và muốn cuộc đàm phán diễn ra ở Đông Dương để dễ bề kiểm soát, khống chế, phong tỏa thông tin, Hồ Chủ tịch kiên quyết yêu cầu cuộc đàm phán chính thức sớm được tổ chức tại Paris để tranh thủ sự hậu thuẫn của dư luận Pháp, nhất là lúc đó hai đảng Cộng sản và Xã hội Pháp đang có sự ủng hộ tương đối mạnh trong dân chúng. Tuy vậy, để tránh bế tắc, Hồ Chủ tịch đồng ý với d’Argenlieu sẽ tổ chức một hội nghị trù bị tại Đà Lạt để vừa tìm hiểu lập trường của Pháp vừa kiềm chế Pháp và hỗ trợ cho đồng bào Nam Bộ.

Sáng sớm ngày 16/4/1946, phái đoàn Việt Nam rời Hà Nội và tới Đà Lạt tối ngày 17/4/1946. Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam tại hội nghị Đà Lạt là ông Nguyễn Tường Tam Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, và Phó Trưởng đoàn là ông Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến toàn quốc cùng 13 đoàn viên chính thức gồm các ông: Trịnh Văn Bính, Cù Huy Cận, Vũ Văn Hiền, Trần Đăng Khoa, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Luyện, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Hồng Khanh, Bùi Công Trừng, và Nguyễn Mạnh Tường. Đoàn có một số cố vấn gồm các ông: Phạm Khắc Hòe, Kha Vạng Cân, Tạ Quang Bửu, Kiều Công Cung, Đinh Văn Hớn, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Tường Thụy, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Tuyên...

Trước khi đoàn đàm phán Việt Nam lên đường đi Đà Lạt, Hồ Chủ tịch đã căn dặn các thành viên trong đoàn phải đoàn kết, thống nhất, giữ vững kỷ luật, bám sát tinh thần và nội dung của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 khi trao đổi với đối phương. Người đặc biệt dặn dò đoàn: “Cần đặt vấn đề Nam Bộ và vấn đề đình chiến lên đầu chương trình nghị sự”.

tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i
Các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Tường Tam và phái đoàn Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt (19/4 - 11/5/1946).

Hội nghị trù bị bắt đầu lúc 9 giờ sáng ngày 19/4/1946 tại Trường trung học Yersin Đà Lạt. Trước và trong quá trình hội nghị, phía Pháp đã liên tục kiếm cớ gây khó dễ cho đoàn Việt Nam như: thông báo Cao ủy d’Argenlieu sẽ là Trưởng đoàn Pháp, nhưng trước sự phản đối mạnh mẽ của phía Việt Nam, ý đồ này không thực hiện được và phía Pháp phải để Max Andre, người mới từ Paris sang làm trưởng đoàn; không cho đại biểu Phạm Ngọc Thạch từ Sài Gòn lên tham gia đoàn ta; ngăn đoàn ta sử dụng máy vô tuyến điện để liên lạc…

Trong quá trình họp, phía Pháp thể hiện rõ lập trường thực dân lỗi thời như không công nhận Việt Nam có quyền ngoại giao, không có quyền ký các hiệp ước quốc tế và đặc biệt muốn tách Tây Nguyên thành khu tự trị, không bàn đến vấn đề Nam Bộ... Vì những bất đồng căn bản giữa hai bên nên Hội nghị Đà Lạt kết thúc ngày 11/5/1946 mà không đạt kết quả gì.

Mục tiêu nhất quán của ta

Ngày 18/5/1946, Cao ủy d’Argenlieu từ Sài Gòn ra Hà Nội cố gắng thuyết phục Hồ Chủ tịch và đoàn đại biểu Việt Nam chưa sang Pháp với lý do Pháp chưa bầu được chính phủ. Tuy nhiên, Hồ Chủ tịch và Chính phủ ta kiên quyết không chấp nhận lý do do d’Argenlieu đưa ra. Ngày 29/5/1946, theo kế hoạch, Hồ Chủ tịch ký quyết định cử đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam dẫn đầu sang Pháp đàm phán cùng với chuyến thăm chính thức nước Pháp của Người từ ngày 31/5/1946. Phía Pháp cử Tướng Raoul Salan và Đại tá Tutenge tháp tùng Hồ Chủ tịch và đoàn ta từ Hà Nội sang Pháp trên hai máy bay Dakota của Pháp.

Khi đoàn Việt Nam sắp lên đường thì ngày 29/5/1946, Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn Nguyễn Tường Tam cáo bệnh không đi Pháp nữa. Sau đó ông Tam đã chạy sang Trung Quốc theo chân quân đội Tưởng Giới Thạch và có thông tin ông ta đã mang theo toàn bộ kinh phí chuẩn bị cho đoàn Việt Nam đi Pháp. Vì vậy, ngày 30/5/1946, ông Phạm Văn Đồng, Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, được cử làm Trưởng đoàn Việt Nam. Với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp tham dự cuộc đàm phán nhưng Người luôn quan tâm theo sát quá trình thương lượng, chỉ đạo và giữ vai trò tác động quan trọng trong quá trình thương thảo tìm kiếm hòa bình cho Việt Nam.

Phái đoàn ta gồm Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng và các thành viên: Phan Anh, Bửu Hội, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Phượng, và Huỳnh Thiện Lộc.

Các chuyên viên có: Phạm Khắc Hòe, Nguyễn Đệ, Hoàng Văn Đức, Vũ Trọng Khánh, Hồ Đắc Liên, Nguyễn Văn Luyện, Nguyễn Văn Tịnh và Nguyễn Đắc Khê.

Trưởng phái đoàn Pháp vẫn là Max André (nguyên Giám đốc nhà băng Đông Dương) cùng các thành viên: Pignon (cố vấn Cao ủy d’Argenlieu), Gonon, Torel (viên chức bộ máy thuộc địa), Messmer (nguyên là công sứ), Bourgoin (quan chức kinh tế Đông Dương), Darcy, đô đốc Barjot, tướng Salan, các nghị sĩ Loseray và Juglas...

Ngày 5/7/1946, một ngày trước khi hội nghị Fontainebleau khai mạc, trưởng đoàn Max Andre, đã họp với toàn thể thành viên phái đoàn Pháp, phổ biến lập trường của chính phủ Pháp về cuộc đàm phán. Khi cuộc họp kết thúc, ông Paul River, một nghị sĩ của Đảng Xã hội Pháp đã tuyên bố với Max Andre và sau đó thông báo với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet việc ông từ chức, không tham gia đoàn đàm phán của Pháp để phản đối âm mưu phá hoại hội nghị Fontainebleau ngay từ đầu của phía Pháp.

Trước ngày 6/7/1946, bất chấp thất bại ở Hội nghị trù bị Đà Lạt, Cao ủy d’Argenlieu một lần nữa ngỏ ý muốn chủ trì Hội nghị Fontainebleau. Tuy nhiên trước sự phản đối mạnh mẽ của đoàn Việt Nam, d’Argenlieu phải từ bỏ tham vọng của ông ta. Sáng ngày 6/7/1946, lâu đài Fontainebleau được trang hoàng theo nghi lễ ngoại giao, treo quốc kỳ Việt Nam và Pháp và trước khi khai mạc có cử quốc thiều hai nước. Hội nghị diễn ra tại phòng họp chính của lâu đài.

Hội nghị Fontainebleu bắt đầu với bài diễn văn với lời lẽ lễ tân chào mừng vô thưởng, vô phạt của Trưởng đoàn Pháp Max Andre. Ngược lại, Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng đọc diễn văn đáp từ với những lời lẽ mạnh mẽ, thực chất. Sau khi lên án những hành động của phía Pháp vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6/3 như: không đình chỉ chiến sự, đánh chiếm vùng cao nguyên Pleiku – Kontum, chiếm Phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội, và nghiêm trọng hơn cả là việc thành lập một chính phủ bù nhìn ở Nam Việt Nam (Nam Kỳ tự trị), ông Phạm Văn Đồng nói:

“Nếu coi Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 chỉ là một phương tiện để có thể kéo quân vào Bắc Việt Nam, để đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, buộc chúng tôi chấp nhận ‘những việc đã rồi’, thì không thể nào đi đến một sự thỏa thuận hòa bình và hữu nghị mà hai dân tộc chúng ta đều mong ước”.

Trong quá trình đàm phán, phái đoàn Việt Nam nhất quán theo đuổi các mục tiêu về độc lập chính trị và thống nhất Việt Nam. Tuy nhiên, phái đoàn Pháp chỉ muốn coi Việt Nam là quốc gia tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, còn Liên bang Đông Dương là một liên hiệp các quốc gia tự trị tại Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp. Về phần mình, Phái đoàn Việt Nam muốn quan hệ của Việt Nam và các bên trong Liên hiệp Pháp là sự hợp tác tự do và bình đẳng về mọi mặt, còn Liên bang Đông Dương chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế và tài chính vì Liên bang Đông Dương không phải là một quốc gia.

Về ngoại giao, phía Pháp muốn Việt Nam chỉ quan hệ với Pháp, còn phía Việt Nam muốn có Bộ Ngoại giao riêng. Về vấn đề thống nhất Việt Nam, phía Pháp đòi phải tái lập trật tự trước tiên rồi sau đó sẽ mở cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về vấn đề sát nhập Nam Kỳ vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (thống nhất với Trung Kỳ và Bắc Kỳ). Điểm gây tranh luận nhiều nhất là Chính phủ Pháp từ đầu tháng 6/1946 đã đơn phương tán thành việc Cao ủy d’Argenlieu thành lập cái gọi là “Cộng hòa Nam Kỳ tự trị”.

Kỳ cuối: Tạm ước 14/9/1946 - Giải pháp chính trị, ngoại giao tài tình 

tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh với Ngoại giao văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới”

TGVN. Sáng ngày 29/10 tại Nghệ An diễn ra Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh với Ngoại giao Văn hóa Việt Nam ...

tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i Tư tưởng ngoại giao văn hóa Hồ Chí Minh - Cây cầu hữu nghị thúc đẩy sự hiểu biết giữa các dân tộc

TGVN. Tư tưởng ngoại giao văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành từ sự tiếp thu, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa ...

tu da lat den fontainebleau va tam uoc 149 ky i Những thông điệp ngoại giao đầu tiên

TGVN. Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ...

Đại sứ Hoàng Vĩnh Thành