| Phật giáo Nam tông Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long. (Nguồn: Báo TNMT) |
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách dân tộc, tôn giáo tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trở thành yêu cầu cấp thiết mang tính chiến lược, đòi hỏi tư duy dài hạn cùng giải pháp toàn diện. Việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở ĐBSCL không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm quyền bình đẳng, tự do, mà còn trở thành yếu tố quan trọng, là “chìa khóa” để thúc đẩy phát triển bền vững trên ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.
Nền tảng kết nối chính sách với phát triển bền vững
Việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo tại Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng được xây dựng trên nền tảng lý luận và pháp lý vững chắc. Về mặt lý luận, hệ thống quan điểm được kế thừa từ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với hai nguyên tắc nòng cốt là bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Những tư tưởng này tiếp tục được Đảng ta hiện thực hóa qua các đường lối, chính sách cụ thể, khẳng định “đoàn kết các dân tộc là chiến lược lâu dài” và “tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội Đảng XIII nhấn mạnh chủ trương tiếp tục hoàn thiện chính sách, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào DTTS và tạo điều kiện để các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc. Như vậy, cơ sở lý luận không chỉ dừng lại ở các nguyên tắc mà đã được thể chế hóa thành các định hướng chiến lược rõ ràng, tạo cơ sở cho việc xây dựng một khung pháp lý đồng bộ.
Điều 5 và điều 24 Hiến pháp 2013 khẳng định nguyên tắc mọi dân tộc đều bình đẳng; bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Nhà nước có trách nhiệm tối thượng trong việc bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền này. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tôn giáo. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số được thể hiện minh bạch trong Nghị quyết 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.
Theo Chương trình nghị sự 2030 của LHQ, phát triển bền vững cần song hành cùng ba yếu tố then chốt: kinh tế, xã hội và môi trường, tuân thủ tôn chỉ “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Chính sách dân tộc, tôn giáo được triển khai hiệu quả sẽ trực tiếp đóng góp vào công cuộc xóa nghèo, nâng cao dân trí, cải thiện y tế, bảo vệ môi trường, kiến tạo hòa bình và ổn định xã hội - những mục tiêu cốt lõi trong 17 Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs).
Đặc biệt, tại ĐBSCL, khu vực gánh chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu và đang trong quá trình chuyển đổi số, việc kết hợp thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo với phát triển bền vững không chỉ là đòi hỏi bức thiết mà còn là định hướng chiến lược nhằm khơi dậy tiềm năng và thế mạnh của vùng. Sự kết hợp này mang tính cấp thiết để bảo vệ cộng đồng địa phương, đồng thời mở ra cơ hội phát triển toàn diện và bền vững cho khu vực trọng yếu này.
Hiệu quả từ việc triển khai đồng bộ các chính sách dân tộc, tôn giáo
Thời gian qua, các chính sách dân tộc, tôn giáo tại ĐBSCL được triển khai đồng bộ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống chính sách - pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, đảm bảo tính thống nhất, liên kết và khả thi cao. Các văn bản quan trọng như Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 (theo Quyết định 1719/QĐ-TTg) tạo ra nguồn lực tài chính tập trung để giải quyết các vấn đề hạ tầng, sinh kế. Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu cung cấp một phương pháp tiếp cận tổng thể, giúp lồng ghép hiệu quả các mục tiêu dân tộc, tôn giáo vào chiến lược phát triển của vùng trong bối cảnh mới. Những điều này đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, giúp chính quyền các cấp ở ĐBSCL chủ động xây dựng các Nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội có trọng tâm, phù hợp với đặc thù văn hóa - xã hội của từng địa phương.
Từ việc triển khai có hiệu quả các chính sách, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS, tín đồ tôn giáo được nâng lên, rút ngắn khoảng cách tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Các địa phương ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm, nước sạch) cho các xã, ấp đông đồng bào Khmer, Chăm. Chính sách hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, cấp đất sản xuất, nhà ở được đổi mới theo hướng bền vững, phù hợp với đặc thù sinh thái, khuyến khích mô hình kinh tế thích ứng biến đổi khí hậu. Chính sách giáo dục song ngữ (Việt - Khmer, Việt - Chăm) nâng cao chất lượng dạy và học, bảo tồn văn hóa dân tộc. Tăng cường chăm sóc sức khỏe sinh sản, y tế cơ sở giảm tỉ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em, tăng tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế và học sinh dân tộc thiểu số đi học đúng độ tuổi, thể hiện hiệu quả của việc tiếp cận toàn diện.
Bên cạnh đó, năng lực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo đã có những tiến bộ đáng kể; vai trò của tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành và người có uy tín trong cộng đồng được phát huy, trở thành lực lượng quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và đảm bảo an sinh xã hội. Nhiều mô hình phối hợp hiệu quả giữa Mặt trận Tổ quốc, chính quyền và các tôn giáo (Phật giáo Nam tông Khmer, Hồi giáo trong cộng đồng người Chăm, Công giáo, Tin Lành...) trong hoạt động từ thiện, nhân đạo, bảo trợ xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó thiên tai tạo hiệu ứng xã hội tích cực, lan tỏa sâu rộng. Điều này đặc biệt quan trọng ở vùng ven biển ĐBSCL - nơi thường xuyên đối mặt với xâm nhập mặn, sạt lở và hạn hán. Quan điểm “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc” được thể hiện qua hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, vận động khuyến học - khuyến tài tại cơ sở thờ tự, góp phần phòng ngừa tệ nạn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh ở khu dân cư. Qua đó, tình đoàn kết giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau (lương - giáo) và giữa các dân tộc (Kinh - Khmer - Chăm - Hoa) được thắt chặt.
Tuy nhiên, hiệu quả triển khai các chủ trương về dân tộc, tôn giáo tại một số khu vực còn đối diện nhiều thách thức và hạn chế do có sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp với yếu tố nhạy cảm về sinh thái và xã hội, vẫn tồn tại ở một bộ phận dân cư và địa phương; việc tích hợp chính sách dân tộc, tôn giáo vào quy hoạch phát triển bền vững và chuyển đổi số chưa đồng bộ; bất bình đẳng kĩ thuật số cản trở khả năng tiếp cận dịch vụ công và cơ hội kinh tế số của đồng bào dân tộc thiểu số; công tác cán bộ và phối hợp giữa các cấp, ngành còn nhiều bất cập. Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo ở cơ sở chưa đồng đều; năng lực phân tích dữ liệu, tham mưu chính sách, truyền thông cộng đồng còn yếu. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan phụ trách công tác dân tộc, tôn giáo với cơ quan quản lý tài nguyên - môi trường, nông nghiệp, lao động - thương binh - xã hội, thông tin - truyền thông chưa hiệu quả; nguồn lực bị phân tán, thủ tục giải ngân một số chương trình còn chậm…
| Tác động của biến đổi khí hậu đối với cuộc sống người dân ĐBSCL. (Nguồn: Môi trường và Cuộc sống) |
ĐBSCL hướng tới sự phát triển bền vững và bao trùm
Để vượt qua những thách thức và phát huy tối đa tiềm năng, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, sáng tạo và lấy con người làm trung tâm. Trong đó cần:
Thứ nhất, tăng cường nhận thức và sự đồng thuận trong cộng đồng. Trong đó, thường xuyên tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước liên quan đến dân tộc và tôn giáo với đa dạng về hình thức, tập trung vào phương châm “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng”. Bên cạnh đó, tăng cường tổ chức các diễn đàn đối thoại chính sách giữa chính quyền, các tổ chức tôn giáo, những người có uy tín trong cộng đồng và người dân nhằm tạo kênh thông tin để thu thập, phản hồi và điều chỉnh chính sách phù hợp với đặc thù của từng địa phương.
Thứ hai, các giải pháp sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu cần được xây dựng dựa trên phân vùng sinh thái theo Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030. Nhà nước cần cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi, bảo hiểm nông nghiệp và dịch vụ khuyến nông, khuyến ngư chuyên sâu để giảm thiểu rủi ro thị trường và môi trường. Bên cạnh đó, việc phát triển các mô hình du lịch như “homestay xanh” hay “lễ hội cộng đồng” không chỉ mở ra nguồn thu nhập mới mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, thu hút sự tham gia của thanh niên địa phương và hạn chế tình trạng di cư.
Thứ ba, trang bị kĩ năng số và kiến thiết cơ sở hạ tầng số. Việc đào tạo và nâng cao kĩ năng số cơ bản cho đồng bào các dân tộc thiểu số, các chức sắc tôn giáo, cùng toàn thể tín đồ là yếu tố then chốt, tạo tiền đề cho việc tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử, cũng như khả năng truy xuất nguồn gốc nông sản một cách minh bạch. Cần xây dựng và phát triển các điểm truy cập Internet miễn phí, đặt tại các địa điểm như trụ sở ấp, nhà văn hóa, các cơ sở thờ tự như chùa, thánh thất. Thêm vào đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện về dân cư, đất đai, thông tin hộ nghèo và các công trình tôn giáo sẽ góp phần tăng cường hiệu quả quản lý, giảm thiểu tình trạng chồng chéo, trùng lặp, đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu mở cho các doanh nghiệp và tổ chức xã hội để khai thác và tạo ra những giải pháp sáng tạo.
Thứ tư, tăng cường vai trò của những người có uy tín và các tổ chức tôn giáo. Những người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng ấp, các hội đoàn thể, đều đóng vai trò là cầu nối quan trọng, kết nối chính quyền với người dân. Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kĩ năng truyền thông, kĩ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và kĩ năng số cho lực lượng này, giúp họ trở thành những “hạt nhân” lan tỏa thông tin chính thống, tin cậy. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ về vật chất và tinh thần phù hợp, để họ yên tâm công tác, gắn bó mật thiết với cộng đồng.
Để bảo đảm sự phát triển bền vững cho ĐBSCL, các chính sách phát triển cần lấy con người làm trung tâm, tôn trọng và đề cao sự đa dạng, đồng thời phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa và tri thức của người dân nơi đây. Bên cạnh đó, việc chủ động tiếp cận và ứng dụng những thành tựu của khoa học - kĩ thuật hiện đại giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực thích ứng của vùng trước những biến động khắc nghiệt của thiên nhiên và bối cảnh thời đại. Chỉ khi hội tụ đầy đủ những yếu tố này, ĐBSCL có thể duy trì vị thế là một vùng đất trù phú, ổn định, giàu bản sắc văn hóa và hướng tới sự phát triển bền vững, bao trùm.
| Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là trọng điểm lúa gạo của cả nước, mà còn là vùng văn hóa - sinh thái độc đáo, nơi quy tụ trên 17 triệu cư dân thuộc nhiều dân tộc như Kinh, Khmer, Hoa, Chăm... cùng đa dạng tôn giáo lớn như Phật giáo (Bắc tông, Nam tông Khmer), Công giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, và các tín ngưỡng dân gian phong phú. Sự đa dạng này vừa là tiềm năng, vừa là thách thức trong quản lý và phát triển. |