![]() |
| Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Bộ Ngoại giao, mở đầu hành trình hơn 80 năm xây dựng và phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. (Nguồn: TTXVN) |
Ngày 28/8/1945, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã quyết định thành lập Bộ Ngoại giao - một trong những cơ quan đầu tiên của chính quyền cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng mang đậm bản sắc dân tộc, thấm đượm trí tuệ, bản lĩnh và đạo lý Việt Nam.
Ngoại giao Việt Nam ra đời và trưởng thành cùng với sự phát triển của đất nước. Từ một "mặt trận không tiếng súng" trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập, đến một trong những trụ cột quan trọng của sức mạnh quốc gia ngày nay, ngoại giao luôn giữ vai trò đặc biệt trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Đó là mặt trận của lý lẽ, của bản lĩnh, của sự mềm dẻo nhưng kiên định, của đối thoại nhưng không nhân nhượng trước những vấn đề liên quan đến lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc.
Trải qua 81 năm xây dựng và phát triển, đối ngoại và ngoại giao Việt Nam luôn được triển khai dưới sự lãnh đạo của Đảng, bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam. Những đóng góp bền bỉ và hiệu quả của ngành đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng, góp phần vào những thắng lợi của dân tộc và tạo dựng vị thế, uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
Phục vụ sự nghiệp kháng chiến, giành độc lập, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc
![]() |
| Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XXII, tại Điện Kremlin, tháng 10/1961. (Nguồn: TTXVN) |
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, đồng thời mở đầu cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia trên thế giới với tư cách một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam non trẻ ngay từ những ngày đầu đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức khi thế và lực còn yếu, trong khi thù trong, giặc ngoài luôn rình rập.
Trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc, tranh thủ mọi cơ hội, mọi khả năng, kể cả những mối quan hệ cá nhân để triển khai những sáng kiến ngoại giao sáng suốt, tinh tế và đầy bản lĩnh. Bằng nghệ thuật ngoại giao khéo léo, Người đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhiều nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ; đồng thời làm thất bại âm mưu khôi phục ách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương và buộc 20 vạn quân Tưởng phải rút khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Trong giai đoạn "ngàn cân treo sợi tóc", những quyết sách ngoại giao do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại của chính quyền cách mạng non trẻ. Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946 là những dấu mốc lớn, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Việc chấp nhận nhân nhượng có nguyên tắc để "lùi một bước, tiến nhiều bước" đã giúp ta giữ vững nền độc lập, khẳng định tính chính danh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bảo vệ chính quyền cách mạng, kéo dài thời gian hòa bình quý báu để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ sau đó.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam kiên trì thực hiện phương châm "thêm bạn, bớt thù", tích cực mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự công nhận và ủng hộ của bạn bè thế giới, đồng thời xây dựng mặt trận đoàn kết quốc tế rộng rãi. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và nhiều nước khác đã tạo bước chuyển quan trọng về vị thế quốc tế của Việt Nam. Những nguồn viện trợ to lớn về vật chất và tinh thần từ các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Hiệp định Geneva năm 1954 là đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Đây là thắng lợi mang ý nghĩa lịch sử, góp phần chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, khẳng định quyền độc lập dân tộc của Việt Nam và đưa lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần đầu tiên hiện diện chính thức trên bản đồ chính trị thế giới.
Trong hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau đó, các hoạt động đối ngoại được triển khai đồng bộ, linh hoạt và sáng tạo, góp phần xây dựng một mặt trận đoàn kết quốc tế rộng lớn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam lan rộng trên khắp thế giới, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam trở thành biểu tượng của lương tri và khát vọng hòa bình của nhân loại.
Suốt năm năm đàm phán tại Hội nghị Paris (1968-1973), ngoại giao Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh kiên định, trí tuệ và sự linh hoạt trong nghệ thuật đàm phán, luôn bám sát diễn biến trên chiến trường và thực hiện hiệu quả chủ trương "vừa đánh, vừa đàm" của Đảng. Mặc dù là một quốc gia nhỏ với tiềm lực hạn chế, Việt Nam đã buộc Mỹ phải từng bước chấp nhận những yêu cầu chính đáng của mình và tiến tới rút quân khỏi miền Nam.
Những bài học về nghệ thuật đàm phán ngoại giao - biết tiến, biết lùi, biết nhân nhượng đúng lúc nhưng vẫn kiên quyết bảo vệ lợi ích cốt lõi của dân tộc, đã góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi lịch sử của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ đất nước
![]() |
| Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra bước ngoặt trong tư duy đối ngoại, chuyển từ đối đầu sang hợp tác với phương châm "thêm bạn, bớt thù", đặt nền tảng cho công cuộc Đổi mới và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. (Nguồn: TTXVN) |
Một trong những giai đoạn cam go nhất của đất nước là những năm sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975-1995). Bên cạnh niềm vui thống nhất, Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt khó khăn của thời kỳ hậu chiến: nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, đất nước bị bao vây, cấm vận, đồng thời phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Khó khăn nối tiếp khó khăn, thách thức chồng chất thách thức.
Một lần nữa, ngoại giao Việt Nam đã chứng tỏ bản lĩnh và vai trò tiên phong của mình. Trước những biến chuyển sâu sắc của tình hình thế giới, đặc biệt khi trật tự quốc tế thay đổi sau Chiến tranh Lạnh và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, Đảng ta đã sớm điều chỉnh tư duy đối ngoại, nhận thức rõ xu thế chuyển dịch từ đối đầu quân sự sang hợp tác và cạnh tranh về kinh tế, cùng sự gia tăng phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Công cuộc Đổi mới năm 1986 cùng Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị năm 1988 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới đã đặt nền móng cho đường lối đối ngoại rộng mở, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế với tinh thần "đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hòa bình".
Những hoạt động đối ngoại được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ trên cả bình diện song phương và đa phương nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình, tháo gỡ thế bao vây, cấm vận và từng bước xử lý những điểm nghẽn trong quan hệ quốc tế đã mang lại những kết quả quan trọng. Việt Nam lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề Campuchia, qua đó từng bước tạo dựng hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, ổn định và sẵn sàng hội nhập.
Sau khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995, không gian chiến lược của Việt Nam được mở rộng chưa từng có. Việt Nam từng bước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hầu hết các đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Anh, Pháp, Australia... Đồng thời, Việt Nam tích cực tham gia các cơ chế đa phương quan trọng như Liên hợp quốc (LHQ), ASEAN, APEC, ASEM và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Cùng với đó, việc đăng cai Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ năm 1997, Hội nghị Cấp cao ASEAN năm 1998, Tuần lễ Cấp cao APEC năm 2006 và đảm nhiệm cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ) nhiệm kỳ 2008-2009 đã khẳng định vai trò và uy tín ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế thông qua việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với ASEAN và các đối tác như Hàn Quốc, Nhật Bản; hoàn tất đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA); tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)... Những hiệp định này đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam.
Có thể khẳng định, đây là giai đoạn bản lề trong tiến trình phát triển của đất nước, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ về tư duy đối ngoại cũng như vị thế quốc gia. Từ đây, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa được định hình rõ nét và trở thành định hướng xuyên suốt cho đến ngày nay. Cùng với sự phát triển của đất nước, ngoại giao Việt Nam cũng có bước trưởng thành vượt bậc cả về tư duy, tầm vóc và hiệu quả hoạt động, từng bước trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Kiến tạo vị thế, huy động nguồn lực, hội nhập sâu rộng, cân bằng và ổn định quan hệ
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23. (Nguồn: TTXVN) |
Vượt qua những thách thức chưa từng có của đại dịch COVID-19 cùng những tác động đa chiều từ cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc, khủng hoảng kinh tế và năng lượng toàn cầu, đối ngoại Việt Nam tiếp tục khẳng định sự năng động, bản lĩnh và khả năng thích ứng. Ngoại giao đã giữ vững vai trò là một trong những trụ cột của đất nước, đóng góp tích cực vào việc củng cố ổn định chính trị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đưa Việt Nam trở thành điểm sáng trong bức tranh nhiều gam màu trầm của thế giới.
Trước hết, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao. Các hoạt động đối ngoại trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa và xã hội đã góp phần tăng cường lòng tin chính trị, tạo sự đan xen lợi ích với các đối tác, đặc biệt là các nước lớn, qua đó tạo nền tảng vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Cục diện đối ngoại của Việt Nam cũng được mở rộng hơn bao giờ hết khi quan hệ với hầu hết các đối tác chủ chốt được nâng tầm lên đối tác chiến lược hoặc đối tác toàn diện, đồng thời ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.
Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 37 nước; là thành viên của hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế quan trọng như LHQ, ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ với 247 chính đảng tại 111 quốc gia, trong khi Quốc hội Việt Nam duy trì quan hệ với nghị viện của hơn 140 nước. Đó là những con số biết nói, phản ánh tầm vóc và vị thế ngày càng lớn của Việt Nam trên trường quốc tế.
Uy tín và lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam cũng được củng cố qua từng năm. Việt Nam luôn thể hiện hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, chân thành, thủy chung với những người bạn đã từng đồng hành trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử. Dù còn nhiều hạn chế về nguồn lực, Việt Nam vẫn tích cực tham gia các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong gìn giữ hòa bình, thúc đẩy phát triển, ứng phó biến đổi khí hậu và phòng, chống dịch bệnh.
Lập trường và tiếng nói của Việt Nam ngày càng được coi trọng nhờ phương thức ứng xử hợp tình, hợp lý trên tinh thần bình đẳng, hòa hiếu và nhân văn; kiên trì tôn trọng luật pháp quốc tế, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, hòa bình, hợp tác và phát triển. Chính điều đó đã góp phần gia tăng sự tin cậy chính trị giữa Việt Nam với các đối tác, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển ổn định của đất nước.
Thứ hai, Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò, năng lực và trách nhiệm tại các cơ chế đa phương như LHQ, Tiểu vùng Mekong, APEC, G20, BRICS, AIPA và Cộng đồng Pháp ngữ.
Trong ASEAN, Việt Nam đã thực sự trở thành một trong những quốc gia giữ vai trò dẫn dắt với nhiều sáng kiến và đóng góp quan trọng nhằm xây dựng một ASEAN đoàn kết, vững mạnh, phát huy vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực và hướng tới Cộng đồng ASEAN sau năm 2025. Đặc biệt, việc lần đầu tiên tổ chức thành công Diễn đàn Tương lai ASEAN đã tạo ra một cơ chế trao đổi mới, góp phần nâng cao vai trò của Việt Nam trong việc định hình tầm nhìn phát triển của ASEAN đến năm 2045.
Việt Nam tham gia các cơ chế đa phương với tâm thế chủ động, tự tin, thực chất và có trách nhiệm, qua đó nhận được sự tin tưởng và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Nhiều sáng kiến và đề xuất của Việt Nam khi đảm nhiệm vai trò tại Hội đồng Bảo an LHQ (2020-2021), Hội đồng Nhân quyền LHQ hay Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đều được ghi nhận và tạo được sự đồng thuận rộng rãi.
Việt Nam cũng được đánh giá là thành viên có trách nhiệm, tích cực đóng góp vào việc xử lý các vấn đề an ninh khu vực và toàn cầu như gìn giữ hòa bình, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh mạng. Những cam kết mạnh mẽ trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã thể hiện rõ trách nhiệm của Việt Nam trước các thách thức chung của nhân loại.
Thứ ba là ngoại giao kinh tế tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ tăng trưởng và hội nhập, đồng thời mở rộng mạng lưới liên kết kinh tế với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới.
Ngoài việc tập trung tháo gỡ các rào cản thương mại và thuế quan tại những thị trường truyền thống như Mỹ và châu Á, Việt Nam còn chủ động mở rộng thị trường sang Trung Đông và châu Phi, tạo thêm dư địa cho xuất khẩu và đa dạng hóa thị trường.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, từng bị bao vây và cấm vận, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế hội nhập sâu rộng với 17 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 600 tỷ USD, cao gấp hơn 120 lần so với thời kỳ đầu Đổi mới; thu hút trên 500 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm các quốc gia thu hút FDI lớn của thế giới, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ cao với sự hiện diện của nhiều tập đoàn hàng đầu.
Ngoại giao công nghệ cũng đang mở ra những động lực phát triển mới khi góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, thiết kế chip, trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo, cũng như hình thành các trung tâm tài chính và trung tâm công nghệ thế hệ mới tại Việt Nam.
Thứ tư là việc duy trì được sự cân bằng và ổn định trong quan hệ với các nước, đặc biệt là các cường quốc, các đối tác chủ chốt và những người bạn truyền thống.
Đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi một cục diện đối ngoại ổn định sẽ tạo nền tảng thuận lợi cho công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh trật tự chính trị - kinh tế thế giới đang tái định hình với nhiều biến động phức tạp và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.
![]() |
| Trong Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 59, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN+3 tại Manila (Philippines), ngày 23/7. (Nguồn: ASEAN). |
Việc triển khai nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, trên cơ sở Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, đồng thời lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm nguyên tắc cao nhất, đã giúp Việt Nam xử lý hài hòa quan hệ với các đối tác trước những biến động quốc tế, không để đất nước rơi vào thế phải lựa chọn phe hay đối mặt với những tình huống khó xử.
Các lực lượng làm công tác đối ngoại cũng góp phần quan trọng vào nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc từ sớm, từ xa, đúng tinh thần "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Đường biên giới trên bộ và trên biển được duy trì trong hòa bình, ổn định và hợp tác; nhiều tiến triển quan trọng đạt được trong đàm phán với các nước; đồng thời Việt Nam tích cực thúc đẩy xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982. Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Cách ứng xử của Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa lý và tình, giữa nguyên tắc và linh hoạt, thể hiện tinh thần hòa hiếu của dân tộc cùng nghệ thuật "cân bằng động" trong quan hệ với các nước lớn. Việt Nam kiên định bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ.
![]() |
| Đoàn kiều bào tiêu biểu đến từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ dâng hương tại Khu di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) trong khuôn khổ chương trình Xuân Quê hương 2026, sáng 7/2. (Ảnh: Thành Long) |
Bên cạnh các hoạt động đối ngoại chính trị, công tác chăm lo cho gần 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như công tác bảo hộ công dân và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của bà con, ngày càng được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả thiết thực. Hàng chục tỷ đồng cùng hàng nghìn dự án đã được huy động nhằm hỗ trợ cộng đồng người Việt ở nước ngoài, góp phần tăng cường gắn kết giữa kiều bào với quê hương, đất nước. Cùng với đó, công tác thông tin đối ngoại và ngoại giao văn hóa được triển khai bền bỉ, hiệu quả, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam, phục vụ đắc lực cho việc triển khai các hoạt động đối ngoại trên nhiều lĩnh vực.
Tám mươi năm đã trôi qua, chúng ta có quyền tự hào về một nền ngoại giao không ngừng lớn mạnh, luôn bản lĩnh và kiên định trong bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời linh hoạt, chủ động thích ứng trước những biến động của tình hình thế giới. Những thành tựu đạt được và các bài học kinh nghiệm quý báu của ngoại giao Việt Nam được hun đúc từ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước; từ sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo nên một mặt trận đối ngoại toàn diện, thống nhất và hiệu quả. Đó cũng là kết quả của quá trình cống hiến, hy sinh và nỗ lực bền bỉ của nhiều thế hệ cán bộ đối ngoại cùng các tập thể, cá nhân đã góp phần làm nên diện mạo của nền ngoại giao Việt Nam hôm nay.
Cội nguồn của ngoại giao Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống độc lập, hòa hiếu, mềm dẻo, đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế; từ tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; từ khát vọng hòa bình, chống chiến tranh xâm lược; từ chủ trương xây dựng quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng và phát triển quan hệ hợp tác với tất cả các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Đó cũng là sự kết tinh giữa bản sắc dân tộc, trí tuệ thời đại và nghệ thuật ứng xử chiến lược được dẫn dắt bởi tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.
Việc vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh theo tinh thần "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", "thêm bạn, bớt thù", với tư duy độc lập, tự chủ, biết mình, biết người, biết thời thế đã giúp đối ngoại Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén và linh hoạt trong xử lý các mối quan hệ quốc tế, đồng thời kiên định bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc trong mọi hoàn cảnh.
Theo tinh thần đó, Việt Nam không chọn bên mà chọn lẽ phải; lựa chọn hòa bình, hợp tác và đối thoại; kiên trì giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, vì lợi ích của dân tộc, qua đó tạo dựng thế đứng ổn định và có lợi nhất cho đất nước trước mọi biến động của tình hình quốc tế.
Việt Nam đang chuẩn bị bước vào kỷ nguyên vươn mình với một tâm thế và vị thế mới, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gay gắt. Bên cạnh những cơ hội to lớn do chuyển đổi số, AI, kinh tế xanh và chuyển đổi xanh mang lại, đất nước cũng phải đối mặt với không ít thách thức mới, đòi hỏi đối ngoại Việt Nam tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức và năng lực hành động.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đối ngoại Việt Nam đứng trước yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức và năng lực hành động, xây dựng một nền ngoại giao hiện đại, chuyên nghiệp, toàn diện, lấy người dân, doanh nghiệp và lợi ích quốc gia - dân tộc làm trung tâm, tiếp tục phát huy vai trò kiến tạo phát triển, dẫn dắt hội nhập và giữ vững độc lập, tự chủ.
Đó cũng là hành trình tiếp nối lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc. Trong bối cảnh các hoạt động đối ngoại ngày càng đa dạng, đa tầng và gắn kết chặt chẽ với nhau, sự phối hợp đồng bộ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân sẽ tiếp tục là nền tảng quan trọng, bảo đảm cho đối ngoại Việt Nam hoàn thành sứ mệnh bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế đất nước và đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như thế giới.
| Vận dụng Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và là người thầy vĩ đại của ngoại giao Việt Nam. Người không chỉ để lại ... |
| Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao bản lĩnh ngoại giao Việt Nam Ngày 17/5, tại trụ sở Bộ Ngoại giao, thực hiện sự chỉ đạo của Thường trực Đảng uỷ, Ban Tuyên giáo và Dân vận phối ... |
| Di sản Hồ Chí Minh và khát vọng Việt Nam hùng cường Nhân kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, những giá trị tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người tiếp tục được ... |
| Sức mạnh đưa Việt Nam vươn tầm thế giới: Lòng tin, sự chân thành và đoàn kết Sau 81 năm giành độc lập, Việt Nam không chỉ tạo dựng vị thế ngày càng vững chắc trên trường quốc tế mà còn trở ... |
| Đổi mới công tác đối ngoại nhân dân, góp phần kiến tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam Khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đổi mới đối ngoại nhân dân nhằm phát huy đầy đủ hơn sức mạnh của ... |





