Sáng 7/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội nghe Tờ trình tóm tắt và Báo cáo tóm tắt thẩm tra dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.
![]() |
| Quang cảnh hội trường. |
Trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nêu rõ, dự thảo Nghị quyết đã quán triệt, cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Trong đó tập trung xây dựng các chính sách mang tính then chốt thuộc thẩm quyền của Quốc hội để tháo gỡ điểm nghẽn trong phát triển du lịch, tạo cơ chế chính sách đột phá để khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đưa du lịch phát triển đột phá, khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa, có giá trị gia tăng cao, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, bảo đảm nguyên tắc không nhắc lại các cơ chế chính sách đã được quy định.
| More from WVR |
Dự thảo Nghị quyết sau khi được tiếp thu chỉnh lý gồm 14 điều với 7 nhóm chính sách cụ thể:
Thứ nhất, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với dự án du lịch.
Thứ hai, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch.
Thứ ba, hỗ trợ ưu đãi đối với mô hình kinh doanh du lịch mới có sự tham gia của cộng đồng dân cư kinh doanh trên nền tảng số, tổ hợp du lịch giải trí, văn hóa, thể thao kết hợp du lịch với chăm sóc sức khỏe, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Thứ tư, thử nghiệm có kiểm soát một số mô hình hoạt động kinh doanh du lịch.
Thứ năm, hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch.
Thứ sáu, thị thực đặc biệt, tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế.
Thứ bảy, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch.
Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự thảo Nghị quyết cơ bản không phát sinh về nhân lực, bộ máy so với hiện hành. Nguồn lực tài chính cơ bản bảo đảm thực hiện nghị quyết từ nguồn ngân sách trung ương, địa phương và các nguồn khác theo quy định của pháp luật.
“Nghị quyết khi được Quốc hội thông qua sẽ có tác động tích cực khơi thông các nguồn lực, tạo đột phá cho phát triển du lịch, định hình khung khổ pháp lý quan trọng để Chính phủ quy định cụ thể, có thể điều chỉnh linh hoạt, kịp thời khắc phục tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết số 26-NQ/TW đã đề ra”, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh.
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình tóm tắt dự án Nghị quyết. |
Trình bày Báo cáo tóm tắt thẩm tra dự án Nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm kịp thời thể chế hóa và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hồ sơ bảo đảm đầy đủ theo quy định.
Dự thảo Nghị quyết phù hợp với Hiến pháp, tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đã bám sát các chủ trương, định hướng lớn của Nghị quyết số 26-NQ/TW. Dự thảo Nghị quyết không quy định các thủ tục hành chính; cơ bản bảo đảm các quy định về bình đẳng giới, chính sách dân tộc.
Ủy ban tán thành việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội mà chưa được luật quy định hoặc đã quy định nhưng chưa đủ mạnh để tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch; tập trung vào các dự án có khả năng dẫn dắt, lan tỏa, thúc đẩy du lịch phát triển đột phá tại các địa bàn theo định hướng phát triển.
Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu với các Luật có liên quan, nhất là một số dự án luật đang trình Quốc hội tại kỳ họp này; rà soát các quy định về phân quyền, phân cấp; hoàn thiện dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm thống nhất, đồng bộ và khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện. Làm rõ hơn các tác động đối với ngân sách và phương án bảo đảm nguồn lực của từng chính sách.
Ủy ban cơ bản tán thành các nội dung của dự thảo Nghị quyết, đồng thời lưu ý đề nghị rà soát kỹ việc áp dụng từng chính sách đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Về nguyên tắc thực hiện (Điều 2): Đề nghị nhấn mạnh các nguyên tắc:
Một là, ưu tiên đầu tư theo hiệu quả kinh tế - xã hội, gắn với phát triển du lịch bền vững;
Hai là, bảo đảm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và cộng đồng dân cư, nhất là người dân vùng khó khăn, được tham gia và thụ hưởng thực chất;
Ba là, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lựa chọn dự án, áp dụng chính sách; trách nhiệm kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả; cơ chế xử lý vi phạm, trục lợi.
Về phân loại, điều kiện dự án du lịch được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch (Điều 5): Ủy ban cơ bản tán thành quy định của dự thảo Nghị quyết về việc phân loại dự án du lịch được hưởng ưu đãi theo 5 tiêu chí về loại hình, quy mô, địa bàn, hiệu quả kinh tế, phát triển bền vững.
Đồng thời, đề nghị: các loại hình dự án cần bám sát quy định tại Nghị quyết số 26-NQ/TW; ưu tiên các chính sách đối với doanh nghiệp du lịch trong nước. Làm rõ căn cứ xác định và tính khả thi đối với quy định về tiêu chí quy mô vốn đầu tư tối thiểu của dự án và tỷ lệ vốn đầu tư dành cho du lịch. Bảo đảm các dự án du lịch được hỗ trợ, ưu đãi đều loại trừ các hợp phần kinh doanh dịch vụ casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược, kinh doanh bất động sản; gắn ưu đãi với kết quả thực hiện.
Đối với dự án du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống quy mô vừa và nhỏ, đề nghị quy định rõ tiêu chí, điều kiện và cơ chế hỗ trợ phù hợp, bảo đảm cộng đồng dân cư thực sự là chủ thể tham gia, quản lý, cung ứng dịch vụ và thụ hưởng lợi ích, gắn với bảo tồn văn hóa, tri thức bản địa, bảo vệ môi trường và phát triển sinh kế bền vững.
Về điều khoản thi hành (Điều 14): Ủy ban cơ bản tán thành quy định về thời hạn hiệu lực và chuyển tiếp của Nghị quyết. Tuy nhiên, đề nghị rà soát, bảo đảm thống nhất thời điểm có hiệu lực, thời điểm áp dụng và hết hiệu lực của các chính sách; làm rõ phạm vi áp dụng khác luật, nguyên tắc lựa chọn ưu đãi có lợi hơn, không cộng dồn, hưởng trùng lặp hoặc vượt mức Quốc hội quyết định; không để văn bản dưới luật mở rộng các ngoại lệ về thuế, ngân sách; xác định thời gian hưởng ưu đãi theo thời hạn còn lại của từng chính sách, làm rõ điều kiện áp dụng đối với dự án đã được triển khai trước khi Nghị quyết có hiệu lực và nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn chuyển tiếp.
|
| Đại biểu Quốc hội: Bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong trưng mua, trưng dụng tài sản Thảo luận về dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi), các đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định ... |
|
| Quốc hội thảo luận giải pháp ngăn chặn thông đồng và bỏ cọc trong đấu giá tài sản Chiều nay, Quốc hội đã thảo luận các giải pháp kiểm soát chặt chẽ quá trình đấu giá tài sản, nhằm ngăn chặn hành vi ... |
|
| Hôm nay 4/11, Quốc hội làm việc về Luật An ninh dữ liệu, Luật Định danh và xác thực điện tử Ngày 4/11, Quốc hội tiếp tục ngày làm việc của Kỳ họp thứ hai, (Quốc hội khóa XVI) liên quan đến dự án Luật An ... |
|
| Đại biểu Quốc hội: Xử phạt vi phạm hành chính cần kịp thời, đúng tính chất hành vi Thảo luận về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị quy định thời hiệu ... |

