![]() |
| Ngày nay, công nghệ được ứng dụng trong cả lĩnh vực quân sự lẫn dân sự. (Nguồn: Linkedin) |
Năm 1991, quân đội Mỹ thiếu máy thu GPS trong Chiến tranh vùng Vịnh. Hệ thống do Bộ Quốc phòng Mỹ khởi xướng từ năm 1973 đã chứng tỏ giá trị dẫn đường trên sa mạc, nhưng số máy thu quân sự dùng mã chính xác (P-code) không đủ để cấp cho các đơn vị. Lầu Năm Góc phải mua máy thu âm dân sự. Theo báo cáo năm 1995 của Viện Hàn lâm Quốc gia Mỹ, quân đội đã mua hơn 10.000 máy, ngoài số lượng do các đơn vị và cá nhân tự đặt mua.
Trường hợp này cho thấy quân đội có thể tận dụng thiết bị thương mại để đáp ứng nhu cầu tác chiến. Tuy nhiên, GPS cũng đi theo chiều ngược lại: Vốn được phát triển cho mục đích quân sự, hệ thống dần được mở rộng cho người dùng dân sự, trở thành hạ tầng của giao thông, viễn thông, ngân hàng và lưới điện. Theo Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA), khoảng 10% GDP của Liên minh châu Âu (EU) phụ thuộc vào dịch vụ định vị vệ tinh.
Báo cáo tháng 10/2025 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhận định, ngày càng nhiều công nghệ an ninh, quốc phòng bắt nguồn từ khu vực dân sự, nơi vốn tư nhân lớn hơn và chu kỳ nghiên cứu nhanh hơn. Ranh giới giữa hai lĩnh vực vì thế ngày càng khó xác định.
Không gian lưỡng dụng
Lưỡng dụng (dual-use) là những công nghệ có thể phục vụ cả mục đích dân sự lẫn quân sự. Sự chuyển giao giữa hai lĩnh vực có thể diễn ra theo cả hai chiều: Từ quân sự sang dân sự và ngược lại.
Điều đáng chú ý hiện nay là việc đưa công nghệ quân sự vào đời sống dân sự còn phụ thuộc vào quyết định chính sách. Năm 1983, sau khi Liên Xô bắn rơi máy bay chở khách KAL 007, Tổng thống Ronald Reagan (1911-2004) cam kết sớm mở GPS cho dân sự. Năm 2000, Tổng thống Bill Clinton chấm dứt cơ chế cố ý làm giảm độ chính xác của tín hiệu GPS dành cho người dùng thông thường, sau nhiều năm các nhà cung cấp dịch vụ thương mại phàn nàn về chất lượng định vị.
Vệ tinh thể hiện rõ sự đan xen giữa hai mục đích. Một bài viết trên Tạp chí NATO Review năm 2020 lưu ý, vệ tinh phục vụ dự báo thời tiết cũng có thể thu thập thông tin tình báo. Theo NATO, hơn một nửa trong khoảng 3.000 vệ tinh đang hoạt động trên quỹ đạo thuộc sở hữu của các nước thành viên hoặc doanh nghiệp đặt tại những nước này.
Chương trình vệ tinh Hy Lạp là một ví dụ. Ngày 28/11/2025, hai vệ tinh radar khẩu độ tổng hợp do hãng tư nhân ICEYE chế tạo được đưa lên quỹ đạo bằng tên lửa SpaceX, với vốn từ Quỹ Phục hồi và Chống chịu của EU. Theo ESA, chúng phục vụ quản lý thiên tai, giám sát môi trường và an ninh quốc gia; cùng một loạt ảnh radar có thể giúp theo dõi cháy rừng, lũ lụt và cung cấp thông tin cho quân đội.
Các vệ tinh Starlink và Starshield cho thấy hạ tầng thương mại có thể gắn chặt với hoạt động quân sự, đặt ra câu hỏi về quyền kiểm soát. Starlink là dịch vụ Internet vệ tinh thương mại của SpaceX; Starshield phục vụ các cơ quan chính phủ và quốc phòng Mỹ. Ukraine sử dụng Starshield, trong đó có hỗ trợ dẫn đường UAV. Ngày 14/10/2026, các đơn vị Ukraine báo cáo kết nối bị gián đoạn khi thiết bị di chuyển trên 160 km/h, ảnh hưởng đến một số nhiệm vụ. Tỷ phú Elon Musk nói Starshield thuộc sở hữu và quyền kiểm soát của chính phủ Mỹ, còn các giới hạn sử dụng do quân đội nước này và Tổng thống quyết định.
Ví dụ này cho thấy một khía cạnh khác của câu chuyện lưỡng dụng: Không chỉ công nghệ có thể phục vụ cả dân sự lẫn quân sự, mà hoạt động quốc phòng còn có thể phụ thuộc vào hạ tầng thương mại hoặc hệ thống do doanh nghiệp tư nhân phát triển.
Từ thị trường đến quốc phòng
Nhiều ứng dụng UAV dân sự bắt nguồn từ nghiên cứu quân sự. Theo bản tóm lược năm 2017 của Ngân hàng thế giới (WB), sau nhiều thập kỷ nghiên cứu quốc phòng, chi phí UAV giảm mạnh, giúp thiết bị được dùng rộng rãi hơn trong khảo sát, nông nghiệp và giao hàng.
Trong xung đột Ukraine, chiều chuyển giao ngược lại thể hiện rõ. Theo mạng phát thanh công cộng NPR, quân đội Ukraine cải biến UAV thương mại của DJI để mang lựu đạn và chất nổ nhỏ. Hãng tin France 24 ước tính, đến tháng 8/2022, quân đội Ukraine có hơn 6.000 UAV thương mại, nhiều hơn số UAV chiến đấu do Mỹ hay Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp. Từ tháng 4/2022, DJI tuyên bố ngừng bán sản phẩm cho Ukraine và Nga vì chúng không dành cho hoạt động quân sự, song UAV của hãng vẫn tới hai nước qua các thị trường khác.
![]() |
| Sau nhiều thập kỷ nghiên cứu UAV cho quốc phòng, chi phí giảm mạnh, giúp thiết bị này được dùng rộng rãi hơn trong các lĩnh vực dân sự như khảo sát, nông nghiệp và giao hàng. (Nguồn: Linkedin) |
Công nghiệp quốc phòng Ukraine cũng thay đổi nhanh chóng. Theo CSIS tháng 1/2025, trước năm 2022, ngành này gần như do một tập đoàn nhà nước nắm giữ, còn thiết kế mẫu thử mất trung bình 3-20 năm. Sau đó, khoảng 500 doanh nghiệp tham gia, phần lớn được thành lập từ năm 2022.
Thủ tục phê duyệt UAV và thiết bị tác chiến điện tử thường hoàn tất chỉ trong hai tuần. Phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) dẫn đường và nhắm mục tiêu được cho là nâng tỷ lệ trúng của UAV giá rẻ từ khoảng 20% lên tới 70%. Ngày 20/8/2026, Bộ Quốc phòng Ukraine cho phép các đơn vị đặt UAV theo yêu cầu qua chợ điện tử Brave1 Market.
Công nghệ thương mại cũng đặt ra bài toán an ninh cho Mỹ. Báo cáo GAO-25-106856 ngày 27/2/2025 của Cơ quan Kiểm toán Mỹ cảnh báo, các đối thủ chiến lược đang tiếp cận công nghệ thương mại tiên tiến hơn bao giờ hết. Trong khi đó, lãnh đạo quốc phòng Mỹ coi đầu tư tư nhân là động lực chính của đổi mới.
AI là ví dụ về việc quân đội Mỹ tiếp nhận công nghệ thương mại. Tháng 7/2025, văn phòng AI của Bộ Quốc phòng Mỹ trao hợp đồng có giá trị trần 200 triệu USD cho mỗi hãng trong số bốn nhà cung cấp AI để thử nghiệm mô hình tiên tiến. Ngày 9/12/2025, bộ này ra mắt nền tảng GenAI.mil, đưa AI tạo sinh tới khoảng 3 triệu nhân sự, bắt đầu với Gemini của Google. Nền tảng này phục vụ hành chính, phân tích tình báo và tác chiến.
Lượng tử cũng có tiềm năng ứng dụng kép. Ngày 23/6/2026, Đơn vị Đổi mới Quốc phòng (DIU) của Mỹ công bố chương trình đầu tư tới 200 triệu USD trong một năm để đưa cảm biến và đồng hồ lượng tử vào quân đội, đồng thời phát tín hiệu nhu cầu cho khu vực thương mại. Ngày 29/9, NATO công bố lộ trình công nghệ lượng tử được các nước thành viên thông qua ngày 30/7, trong đó đề cập ứng dụng vào định vị và dẫn đường.
Định hình dòng chảy công nghệ
Các chính phủ ngày càng chủ động định hướng nghiên cứu và thúc đẩy ứng dụng công nghệ giữa dân sự và quốc phòng. EU và Trung Quốc cho thấy hai cách tiếp cận khác nhau.
EU khai thác công nghệ lưỡng dụng qua tài trợ và thị trường. Ngày 17/6/2026, Hội đồng Đổi mới châu Âu (EIC) mở các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp Accelerator và STEP Scaleup cho doanh nghiệp lưỡng dụng, với mức tài trợ tới 2,5 triệu Euro và vốn cổ phần tới 30 triệu Euro. EIC cũng công bố quỹ 100 triệu Euro cho quốc phòng, lần đầu một chương trình EU đầu tư cổ phần trực tiếp vào doanh nghiệp quốc phòng.
Theo Trung tâm Nghiên cứu An ninh thuộc Đại học Bách khoa Zurich (ETH), từ năm 2026, chương trình khung nghiên cứu EU có thể tài trợ dự án mang cả ứng dụng dân sự và quân sự; EIC cũng có thể tài trợ dự án có mục đích quân sự. Chương trình khung 2028-2034, dự kiến 175 tỷ Euro, vẫn đang được đàm phán. Châu Âu muốn tăng lợi ích chiến lược từ đầu tư khoa học - công nghệ nhưng hạn chế an ninh hóa lĩnh vực này. Theo OECD, ngân sách nghiên cứu và phát triển (R&D) của chính phủ các nước thành viên giảm 4,1% sau lạm phát năm 2024, trong khi chi quốc phòng tăng 11,5% ở EU.
Trong khi đó, Trung Quốc dựa vào cơ chế điều phối của nhà nước. Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 năm 2016 đề ra chiến lược phát triển quân-dân hợp nhất; năm 2017, nước này thành lập Ủy ban Trung ương về phát triển quân-dân hợp nhất do Chủ tịch Tập Cận Bình đứng đầu. Đề cương Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 công bố tháng 3/2026 đề ra thống nhất quy hoạch giữa quân đội và địa phương, ưu tiên đưa công nghệ dân sự tiên tiến vào quốc phòng và thống nhất tiêu chuẩn quân-dân.
Bài toán lợi ích và an ninh
Lợi ích dân sự của việc nghiên cứu và phát triển quốc phòng trong thời bình vẫn còn gây tranh cãi. Theo bài nghiên cứu Khi nào hoạt động R&D quốc phòng trong thời bình tạo ra đổi mới dân sự? Các điều kiện thể chế ở những quốc gia OECD, đăng trên nền tảng SSRN ngày 2/10/2026, hiệu quả phụ thuộc vào thể chế, năng lực của cơ quan ký hợp đồng, mức độ mở cửa mua sắm và khả năng hấp thụ công nghệ của các ngành dân sự.
Tại Mỹ, các công ty khởi nghiệp có vốn đầu tư mạo hiểm vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong mua sắm quốc phòng. CSIS dẫn số liệu của báo The Wall Street Journal cho thấy, nhóm này nhận chưa tới 1% trong tổng giá trị 411 tỷ USD hợp đồng của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 2023, so với 0,5% của tổng giá trị 373 tỷ USD năm 2010.
Bên cạnh đó, theo ETH, chi phí tuân thủ cũng có thể tăng khi nguồn tài trợ gắn với yêu cầu an ninh nghiên cứu, tạo thêm gánh nặng cho các tổ chức nhỏ. Giới học thuật và Nghị viện châu Âu lo ngại việc sử dụng quỹ dân sự cho mục tiêu khác. Tại Ukraine, CSIS lưu ý cơ chế phê duyệt nhanh chỉ có hiệu lực trong thời kỳ xung đột.
Câu hỏi về công nghệ lưỡng dụng vì thế không chỉ là công nghệ quân sự nào có thể phục vụ đời sống, mà còn là khi nào công nghệ dân sự trở thành tài sản chiến lược và công nghệ quân sự trở thành một phần đời sống thường ngày.
| Mỹ công khai ‘vũ khí trên quỹ đạo’, hai quốc gia lớn bị nhắc tên Lực lượng Không gian Mỹ ngày 14/9 xác nhận, Washington đã triển khai các hệ thống vũ khí lên quỹ đạo, đánh dấu bước phát ... |
| Công nghệ lượng tử (Kỳ II): Ai sẽ dẫn đầu kỷ nguyên lượng tử? Công nghệ lượng tử không chỉ là cuộc đua trong phòng thí nghiệm mà đã trở thành mặt trận chiến lược giữa các cường quốc, ... |
| Ứng dụng công nghệ mới giúp nâng tầm ẩm thực Thái Lan Ứng dụng Thai Street Gold Star vừa được chính quyền Thái Lan ra mắt hồi tháng 7 được kỳ vọng sẽ góp phần nâng tầm ... |
| Bình dân học vụ số: Từ biết dùng đến làm chủ công nghệ Trong kỷ nguyên số, học tập suốt đời đang có thêm một không gian mới, đó là môi trường số. Phong trào “Bình dân học ... |
| TS. Trịnh Lê Anh: Công nghệ mở đường, con người dùng trí tuệ cảm xúc chạm đến trái tim du khách Trí tuệ nhân tạo sẽ không bao giờ thay thế được con người trong một ngành dịch vụ đề cao tính bản địa và cảm ... |

