![]() |
| Hình ảnh dựng lại vệ tinh Sputnik-1 trên quỹ đạo Trái đất. (Nguồn: Goodfon) |
Vào 22h28 ngày 4/10/1957 (giờ Moscow), từ sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên bằng tên lửa R-7. Vệ tinh mang tên chính thức “Prosteyshiy Sputnik-1”, hay còn được biết đến với tên gọi Sputnik-1.
Sputnik-1 chỉ là một quả cầu hợp kim nhôm đánh bóng, đường kính 58 cm, nặng 83,6 kg, bên ngoài gắn 4 ăng-ten dạng roi. Bên trong vệ tinh có 3 pin bạc-kẽm và 2 máy phát vô tuyến công suất 1 watt, phát tín hiệu xen kẽ trên 2 tần số 20,005 và 40,002 megahertz. Đáng chú ý, Liên Xô đã công khai các tần số này ngay trong thông cáo đầu tiên về Sputnik-1 đăng trên báo Pravda ngày 5/10/1957, đồng thời cho biết công suất máy phát đủ để giới vô tuyến nghiệp dư ở nhiều nơi trên thế giới có thể thu được tín hiệu.
Sau 22 ngày, pin cạn kiệt, Sputnik-1 ngừng phát tín hiệu. Tuy nhiên, vệ tinh vẫn tiếp tục bay trên quỹ đạo cho đến khi bốc cháy trong khí quyển vào ngày 4/1/1958, sau khoảng 1.440 vòng quanh Trái Đất trong gần ba tháng.
Ở phía bên kia, phản ứng tại Mỹ sau đó được gọi là “cú sốc Sputnik”, không chỉ bởi Liên Xô đã vượt lên trong cuộc đua đưa vệ tinh lên quỹ đạo, mà còn bởi tên lửa R-7, vốn đưa Sputnik-1 vào không gian, cũng có khả năng mang đầu đạn hạt nhân tới lãnh thổ Mỹ. Cú sốc này góp phần thúc đẩy việc thành lập Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Mỹ (NASA) vào năm 1958.
Từ khi vệ tinh đầu tiên được phóng lên quỹ đạo, 69 năm sau, không gian quanh Trái đất đã có sự hiện diện của vệ tinh từ hơn một nửa số quốc gia trên thế giới. Theo báo cáo Space Economy at a Glance 2026 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tính đến năm 2025, 109 quốc gia đã từng đưa ít nhất một vệ tinh lên quỹ đạo.
Nhưng đằng sau con số ấy lại là một thực tế khác. Tính đến giữa năm 2026, chỉ châu Âu và 12 quốc gia thông qua Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã chứng minh được khả năng đưa vật thể vào quỹ đạo. Ngay trong nhóm ít ỏi đó, mức độ tập trung vẫn rất cao: Riêng Mỹ chiếm 55% số vụ phóng và tới 87% số vật thể được đưa lên quỹ đạo trong năm 2025, phần lớn nhờ tần suất phóng dày đặc của SpaceX. Trung Quốc đứng thứ hai với 28% số vụ phóng, nhưng chỉ chiếm 8,4% số vật thể được đưa lên quỹ đạo.
Ai có mặt trên quỹ đạo và ai thực sự có khả năng đưa vật thể lên thực ra là hai câu hỏi rất khác nhau.
Cuộc đua đặt chỗ
Ngày 28/9 vừa qua, SpaceX đã thực hiện chuyến bay quỹ đạo đầu tiên của siêu tên lửa Starship, đưa thành công 26 vệ tinh Starlink thế hệ mới (V3) vào quỹ đạo, nâng tổng số vệ tinh Starlink đang hoạt động lên hơn 11.000. Từ một quả cầu năm 1957, quỹ đạo tầng thấp giờ đây đã trở thành nơi vận hành của các mạng lưới với hàng chục nghìn vệ tinh.
Amazon cũng đang xây dựng mạng lưới vệ tinh Internet của riêng mình, có tên gọi Amazon Leo, với kế hoạch triển khai 3.236 vệ tinh. Tuy nhiên, đến hạn chót 30/7/2026 mà Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) đặt ra để triển khai một nửa số vệ tinh, công ty mới đưa khoảng 330 vệ tinh lên quỹ đạo, chưa đến 1/4 mức yêu cầu. Thay vì thu hồi giấy phép, FCC miễn trừ mốc tiến độ này, nhưng kèm điều kiện Amazon tạm mất quyền ưu tiên phổ tần đối với các vệ tinh được phóng sau đó, cho đến khi đạt mốc 50% hoặc đến tháng 3/2028.
Quy mô tham gia của khu vực tư nhân cũng đang thay đổi nhanh chóng. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), khu vực tư nhân chiếm 88% số vệ tinh được phóng lên trong năm 2025, so với 23% vào năm 2010.
Trung Quốc lại theo đuổi hướng tiếp cận khác: Nộp hồ sơ đăng ký tài nguyên tần số và quỹ đạo ở quy mô lớn trước khi hạ tầng thực tế được xây dựng. Theo dữ liệu của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), cuối tháng 12/2025, các chủ thể Trung Quốc đã nộp hồ sơ xin cấp tần số và tài nguyên quỹ đạo cho khoảng 203.000 vệ tinh thuộc khoảng 14 chòm vệ tinh. Trong đó, hai hồ sơ lớn nhất, CTC-1 và CTC-2, mỗi hồ sơ đăng ký 96.714 vệ tinh.
Các hồ sơ này hiện chưa được ITU xem xét và chưa có hiệu lực pháp lý, nhưng cho thấy quy mô mà các chủ thể Trung Quốc đang hướng tới.
Tuy nhiên, việc nộp hồ sơ không đồng nghĩa với việc có thể “giữ chỗ” vô thời hạn. Theo quy định của ITU, các hệ thống vệ tinh phi địa tĩnh chịu thời hạn 7 năm theo Điều 11.44 của Thể lệ vô tuyến; đối với các hệ thống thuộc diện áp dụng Nghị quyết 35, các mốc triển khai lần lượt là 10% trong 2 năm, 50% trong 5 năm và 100% trong 7 năm. Cơ chế này nhằm hạn chế tình trạng đăng ký tài nguyên quỹ đạo - tần số nhưng không triển khai hệ thống trên thực tế.
Khi quỹ đạo thành không gian chiến lược
![]() |
| Siêu tên lửa Starship lần đầu tiên thực hiện chuyến bay lên quỹ đạo, triển khai thành công 26 vệ tinh Starlink thế hệ mới (V3). (Nguồn: Student News Daily) |
Nếu những thế hệ vệ tinh đầu tiên chủ yếu thực hiện các chức năng quan sát, liên lạc và truyền dữ liệu, thì các hệ thống mới đang mở rộng khả năng sang cơ động, tiếp cận và tương tác với các vật thể khác trên quỹ đạo. Những công nghệ cho phép tiếp cận, sửa chữa hoặc tiếp nhiên liệu trên quỹ đạo cũng có thể tạo ra các năng lực mới cho hoạt động quân sự, từ theo dõi đến can thiệp vào hệ thống không gian của đối phương. Cùng một công nghệ có thể phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự; sự khác biệt nằm ở cách năng lực đó được thiết kế, triển khai và sử dụng.
Trung Quốc là một ví dụ về xu hướng này. Theo điều tra của Reuters ngày 2/9, hồi tháng 6, một phi cơ vũ trụ không người lái của Trung Quốc đã thả một vệ tinh nhỏ bay vòng quanh một vệ tinh khác của nước này. Tướng Chance Saltzman, Tư lệnh Tác chiến Không gian của Lực lượng Không gian Mỹ, phát biểu hồi tháng 7/2026 rằng, Trung Quốc đang nhanh chóng phát triển các năng lực có thể gây nhiễu hoặc phá hủy mục tiêu, và gọi đây là mối đe dọa “đáng kể”.
Một ví dụ khác đang diễn ra ngay trong xung đột Nga-Ukraine. Kiev đang đề nghị Washington áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các công ty Nga và Trung Quốc mà Ukraine cho rằng tham gia phát triển Rassvet, mạng vệ tinh do Nga xây dựng như một lựa chọn thay thế cho Starlink. Nga đã phóng 16 vệ tinh đầu tiên của hệ thống này hồi tháng 3 và dự kiến sẽ phát triển lên khoảng 900 vệ tinh. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho rằng, Rassvet có thể giúp Nga nâng cao khả năng tấn công chính xác; trong khi đó, ngày 4/10, Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh Nga Dmitry Medvedev cảnh báo việc ngăn chặn hệ thống này có thể dẫn tới xung đột toàn diện trong không gian.
Về phía Mỹ, nước này cũng đang phát triển các hệ thống đánh chặn trên quỹ đạo như một thành phần trong kiến trúc phòng thủ tên lửa Vòm Vàng. Các trường hợp trên cho thấy không gian đang mở rộng vai trò từ một hạ tầng phục vụ kết nối, quan sát và truyền dữ liệu sang một không gian có ý nghĩa ngày càng trực tiếp đối với an ninh quốc gia.
Bài toán quản trị mới
Hiệp ước Không gian vũ trụ năm 1967 vẫn là nền tảng pháp lý quốc tế cho các hoạt động ngoài không gian, tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hiệp ước ra đời trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, rất lâu trước khi hoạt động trong không gian thương mại phát triển mạnh và các chòm vệ tinh quy mô lớn xuất hiện như ngày nay. Trong khi đó, tốc độ thay đổi của công nghệ cùng sự gia tăng nhanh chóng về số lượng chủ thể đang đặt ra những bài toán quản trị mới.
Năm 2019, Ủy ban Liên hợp quốc về Sử dụng không gian vũ trụ vì mục đích hòa bình (COPUOS) thông qua 21 Hướng dẫn về tính bền vững dài hạn của hoạt động trong không gian, sau đó được Đại hội đồng Liên hợp quốc hoan nghênh qua Nghị quyết 74/82. Bộ hướng dẫn có tính tự nguyện, không ràng buộc, bao trùm bốn nhóm nội dung: Khung chính sách và pháp lý; an toàn vận hành; hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực; nghiên cứu khoa học - kỹ thuật.
Việc chia sẻ thông tin về vật thể và sự kiện trên quỹ đạo, đánh giá khả năng va chạm trong các giai đoạn bay có kiểm soát là một trong những nội dung cụ thể được Văn phòng Liên hợp quốc về Vấn đề Không gian vũ trụ (UNOOSA) liệt kê trong bộ hướng dẫn này.
Nhóm công tác về giai đoạn tiếp theo (LTS 2.0) hiện vẫn tiếp tục hoạt động, với hàng chục quốc gia đã nộp báo cáo triển khai, cho thấy quá trình chuyển các nguyên tắc chung thành thực tiễn quốc gia vẫn tiếp diễn, trong khi số lượng và tính chất của các hoạt động trên quỹ đạo tiếp tục thay đổi nhanh chóng.
Từ năm 1957 đến năm 2026, ngày càng nhiều quốc gia, tổ chức và doanh nghiệp có thể đưa lợi ích của mình lên quỹ đạo, nhưng năng lực phóng, khai thác hạ tầng và tiếp cận các nguồn tài nguyên quỹ đạo - tần số vẫn tập trung vào rất ít chủ thể. Cuộc đua vì thế không chỉ diễn ra ở năng lực phóng hay quy mô các chòm vệ tinh, mà còn ở khả năng duy trì sự hiện diện, khai thác giá trị và cùng xây dựng những quy tắc cho một không gian ngày càng đông đúc.
| Cách chia sẻ kết nối 4G từ điện thoại qua máy tính đơn giản Không có Wi-Fi, bạn vẫn có thể truy cập Internet trên máy tính bằng cách chia sẻ kết nối 4G từ điện thoại. Cùng khám ... |
| Bỉ chi tiền mạnh tay vào lĩnh vực không gian vũ trụ Quân đội Bỉ đang mở rộng tầm nhìn ra không gian, coi đây là lĩnh vực tác chiến độc lập và là trọng tâm chiến ... |
| Ấn Độ phóng thành công vệ tinh nặng nhất lịch sử trong nước Ngày 2/11, Ấn Độ đã phóng thành công vệ tinh viễn thông nặng nhất từ trước tới nay của nước này, đánh dấu bước tiến ... |
| Sự áp đảo của SpaceX trong lĩnh vực phóng vệ tinh buộc Pháp và châu Âu phải tăng tốc Tại trung tâm không gian lịch sử Vernon vùng Normandie, Pháp, dự án Maia – tên lửa tái sử dụng đầu tiên do châu Âu ... |
| Sao Hỏa gửi ‘mật mã’ từ 3,5 tỷ năm trước: Liệu có sự sống ngoài vũ trụ hay không? NASA vừa đưa ra thông báo mới khi robot Curiosity phát hiện những phân tử hữu cơ mang cấu trúc tương đồng với DNA của ... |
| Giấc mơ vũ trụ của Trung Quốc Nhiều thế kỷ trước, câu chuyện về một nhân vật huyền thoại có tên Vạn Hồ cố gắng phóng mình vào không gian bằng một ... |

