Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc tiếp tục thúc đẩy các chính sách an sinh xã hội (ASXH), bảo đảm quyền thụ hưởng công bằng thành quả phát triển của nhân dân trở thành yêu cầu mang tính chiến lược, phản ánh chất lượng quản trị quốc gia và bản chất nhân văn, ưu việt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
An sinh xã hội và quyền thụ hưởng của nhân dân
Bước ngoặt quan trọng trong tư duy chính sách được xác lập tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII với Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội trong giai đoạn mới, chuyển mạnh từ cách tiếp cận “bảo đảm và ổn định” sang “ổn định và phát triển”, đặt chính sách xã hội trong tổng thể quản lí phát triển xã hội bền vững, gắn ASXH với an ninh con người và an ninh xã hội. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 09/5/2024 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW, cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đến năm 2030.
Hiến pháp năm 2013 đã hiến định trách nhiệm của Nhà nước trong phát triển hệ thống ASXH và chăm lo các nhóm yếu thế, đồng thời xác lập vai trò kiến tạo, bảo đảm và điều phối của Nhà nước, gắn kết trách nhiệm của Nhà nước với gia đình và xã hội trong nâng cao phúc lợi của nhân dân. Trên nền tảng quan điểm nhất quán của Đảng, được khẳng định tại Đại hội XIII và mới nhất là Đại hội XIV, cụ thể hóa trong các Nghị quyết số 42-NQ/TW và 68/NQ-CP, Việt Nam xây dựng hệ thống ASXH toàn diện, bao trùm, dựa trên quyền, gồm 4 hợp phần cốt lõi: Việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo; bảo hiểm xã hội (BHXH); trợ giúp xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản.
![]() |
| Việc tiếp tục thúc đẩy các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm quyền thụ hưởng công bằng thành quả phát triển của nhân dân trở thành yêu cầu mang tính chiến lược. (Nguồn: Báo Nhân dân) |
Trong những năm qua, các chính sách ASXH được triển khai tương đối đồng bộ gắn trực tiếp với việc bảo đảm QCN, quyền công dân và quyền thụ hưởng thành quả phát triển của nhân dân. Năm 2024, Việt Nam được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) ghi nhận là quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) tăng nhanh, nằm trong nhóm các nước có chỉ số hạnh phúc cao ở châu Á và là một trong những quốc gia hoàn thành sớm các Mục tiêu thiên niên kỷ, mục tiêu phát triển bền vững, trong đó có các mục tiêu liên quan trực tiếp đến bảo đảm QCN[1].
Việc làm và thu nhập tiếp tục được xác định là trụ cột chủ động của hệ thống ASXH, giữ vai trò quyết định trong bảo đảm quyền được làm việc và quyền có mức sống tối thiểu. Đến năm 2025, lực lượng lao động cả nước đạt khoảng 53,1 triệu người; tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm còn 2,22% (khu vực thành thị 2,39%)[2], cho thấy thị trường lao động cơ bản ổn định.
| More from WVR |
Chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 70%, trong đó 29,2% có bằng cấp, chứng chỉ; tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt trên 80%, cùng với các chương trình đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực mới và chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ cho hàng trăm nghìn lao động duy trì sinh kế.
Thu nhập bình quân năm 2025 đạt 8,31 triệu đồng/tháng (tăng 756 nghìn đồng so với cùng kì năm trước), gắn với cải cách tiền lương và hoàn thiện thể chế thị trường lao động, bảo đảm quyền thụ hưởng thành quả tăng trưởng. Đáng chú ý, trong năm 2025, cả nước đưa 144.345 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, trong đó 48.784 lao động nữ (đạt 111% kế hoạch), tiếp tục khẳng định đây là kênh phát triển nguồn nhân lực quan trọng, thúc đẩy bình đẳng giới và mở rộng quyền thụ hưởng an sinh trong tiến trình hội nhập.
Giảm nghèo tiếp tục là điểm sáng, phản ánh rõ quyền được bảo đảm mức sống tối thiểu và quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,93% năm 2024, còn khoảng 1,3% năm 2025. Nhiều xã, huyện đặc biệt khó khăn đã thoát nghèo; tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 79,3%, trong đó 42,2% đạt chuẩn nâng cao[3]. Chính sách giảm nghèo được triển khai theo hướng đa chiều, gắn với tạo sinh kế, đào tạo nghề và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, qua đó bảo đảm quyền phát triển và quyền thụ hưởng bình đẳng của người nghèo.
BHXH khẳng định rõ vai trò trụ cột trong bảo đảm an sinh dài hạn và hiện thực hóa quyền an sinh của người lao động. Luật BHXH năm 2024 cùng các nghị định hướng dẫn tạo nền tảng pháp lý cho xây dựng hệ thống BHXH đa tầng, linh hoạt và bao trùm. Ước tính đến hết năm 2025, cả nước có hơn 21,34 triệu người tham gia BHXH, chiếm 45,04% lực lượng lao động trong độ tuổi; BHXH tự nguyện tăng nhanh và hiện có khoảng 3,17 triệu người tham gia[4], từng bước mở rộng quyền tiếp cận an sinh cho nông dân và lao động khu vực phi chính thức.
![]() |
| BHXH đã khẳng định rõ vai trò trụ cột trong bảo đảm an sinh dài hạn và hiện thực hóa quyền an sinh của người lao động. (Nguồn: Báo Nhân dân) |
Đến hết quý III/2025, hơn 3,43 triệu người đang hưởng các chế độ hưu trí và trợ cấp BHXH hằng tháng, cùng khoảng 2,37 triệu người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, phản ánh mức độ thụ hưởng ngày càng thực chất của hệ thống. Cùng với đó, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục phát huy vai trò “đệm an sinh”, góp phần ổn định đời sống người lao động và thị trường lao động.
Chính sách trợ giúp xã hội tiếp tục được triển khai theo hướng lấy con người làm trung tâm, trực tiếp bảo đảm quyền được trợ giúp của người dân khi gặp rủi ro. Giai đoạn 2024-2025, phạm vi và mức hỗ trợ được mở rộng, mức chuẩn trợ giúp xã hội nâng lên 500.000 đồng/người/tháng; hệ thống công tác xã hội từng bước được chuyên nghiệp hóa theo Nghị định số 110/2024/NĐ-CP, góp phần nâng cao chất lượng và tính kịp thời của hỗ trợ. Đến năm 2025, ước tính khoảng 4,5 triệu người hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên và trợ cấp hưu trí xã hội, phản ánh mức độ bao phủ ngày càng thực chất.
Trong các tình huống thiên tai, dịch bệnh, cơ chế trợ giúp xã hội khẩn cấp được triển khai kịp thời; riêng năm 2025, Chính phủ đã hỗ trợ 16.545 tấn gạo cho hơn 1 triệu người dân và huy động trên 2.300 tỉ đồng khắc phục hậu quả thiên tai[5], bảo đảm quyền được sống an toàn và khẳng định cam kết không để ai bị bỏ lại phía sau.
Trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước duy trì tỷ lệ chi ngân sách tối thiểu 20%, miễn học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông tại cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm quyền học tập ngay từ sớm. Trong y tế, chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận tiếp tục được cải thiện, bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe; tỉ lệ bao phủ BHYT đã vượt 93% dân số, phản ánh nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu BHYT toàn dân và quyền được chăm sóc sức khỏe.
Đến năm 2025, chính sách nhà ở xã hội đạt kết quả rõ nét, với hơn 334.000 căn nhà được xây mới, sửa chữa cho người có công, hộ nghèo và cận nghèo, góp phần bảo đảm quyền có nơi ở an toàn. Văn hóa và thông tin tiếp tục được chú trọng phát triển, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó khẳng định quyền tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội cơ bản như một nền tảng cốt lõi của ASXH và phát triển bền vững.
Thúc đẩy an sinh xã hội vì phát triển bền vững
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm, coi ASXH là nền tảng của ổn định xã hội và phát triển bền vững.
Theo đó, ASXH phải được thiết kế và vận hành như một hệ thống bền vững, có khả năng ứng phó hiệu quả cả trong điều kiện bình thường và các tình huống khẩn cấp; gắn chặt với tạo sinh kế, đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Việt tiếp tục thúc đẩy các chính sách ASXH nhằm bảo đảm quyền thụ hưởng thành quả phát triển của Nhân dân trong thời gian tới đòi hỏi phải triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, bảo đảm mọi người dân đều có điểm tựa an sinh tối thiểu trong suốt vòng đời. Để làm được điều này, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo, BHXH, trợ giúp xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW; khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán chính sách; nâng cao tính khả thi, tính nhất quán và hiệu lực tổ chức thực hiện.
Trọng tâm là mở rộng và củng cố diện bao phủ ASXH, đặc biệt đối với lao động khu vực phi chính thức và các nhóm dễ bị tổn thương; đẩy mạnh phát triển BHXH tự nguyện, trợ cấp hưu trí xã hội; từng bước nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội phù hợp với khả năng cân đối ngân sách.
![]() |
| Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm, coi an sinh xã hội là nền tảng của ổn định xã hội và phát triển bền vững. (Nguồn: VnEconomy) |
Hai là, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chính sách ASXH theo hướng bảo đảm thụ hưởng thực chất. Chuyển trọng tâm từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng thụ hưởng; tăng cường gắn kết giữa ASXH với tạo việc làm bền vững, phát triển sinh kế và nâng cao năng lực tự chủ của người dân.
Chính sách trợ giúp cần bảo đảm mức sống tối thiểu, đồng thời được thiết kế theo hướng hỗ trợ phát triển, gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm và hỗ trợ sinh kế, qua đó giúp người thụ hưởng có điều kiện tự vươn lên, giảm dần sự phụ thuộc vào trợ cấp và hạn chế tư duy trông chờ, ỷ lại.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lí và cung cấp dịch vụ ASXH, bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng các chính sách ASXH. Hoàn thiện và kết nối đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về ASXH với cơ sở dữ liệu dân cư; mở rộng chi trả không dùng tiền mặt; đơn giản hóa thủ tục hành chính; nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận chính sách của người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn.
Bốn là, tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho ASXH. Bên cạnh ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, cộng đồng và hợp tác quốc tế; đồng thời tăng cường kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và bảo đảm tính bền vững của các quỹ ASXH.
Năm là, nâng cao năng lực quản trị nhà nước và trách nhiệm giải trình trong lĩnh vực ASXH. Tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lí theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội và ASXH các cấp. Tăng cường giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; thúc đẩy thể chế hóa quyền tham gia của các tổ chức xã hội và tăng cường các hoạt động đánh giá độc lập.
Trong giai đoạn phát triển mới, thúc đẩy ASXH cần được xác lập là trụ cột chiến lược của phát triển bền vững, phản ánh trình độ quản trị xã hội và mức độ bảo đảm QCN của Nhà nước. Kiên định lấy con người làm trung tâm, hoàn thiện hệ thống ASXH bao trùm, thực chất và bền vững chính là cam kết mạnh mẽ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bảo đảm QCN, bảo đảm quyền thụ hưởng công bằng thành quả phát triển, kiên định mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trên con đường phát triển.
- Liên hợp quốc (2024), Báo cáo phát triển con người 2023/2024, UNDP, New York, tr. 272–275
- Bộ Nội vụ (2026), Báo cáo Kết quả công tác năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2026 của ngành Nội vụ, tr. 16-19.
- Đảng ủy Chính phủ (2025), Báo cáo Tình hình thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới đến năm 2025, tr. 40–42.
- Chính phủ (2025), Báo cáo số 752/BC-CP ngày 05/9/2025 của Chính phủ gửi Quốc hội về tình hình thực hiện chính sách, chế độ BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH
- Đảng ủy Chính phủ (2025), Báo cáo Tình hình thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ….. đến năm 2025, tr. 38–39.
| Phật giáo góp phần bảo đảm an sinh xã hội Tư tưởng bình đẳng, hòa bình của Phật giáo, lòng từ bi, bác ái, khuyên con người luôn nhớ đến “đạo hiếu”, lấy chữ hiếu ... |
| Cần Thơ chủ động, linh hoạt trong công tác an sinh xã hội Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, TP. Cần Thơ luôn chủ động, linh hoạt trong công tác bảo đảm an ... |
| Phát triển nhà ở là trụ cột quan trọng của chính sách an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển Sáng 11/11, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động ... |
| Đức đối mặt 'cơn sóng bạc': Già hóa nhanh, dân số giảm sâu Với tỷ suất sinh xuống mức thấp kỷ lục và thế hệ “baby boomer” đồng loạt bước vào tuổi nghỉ hưu, Đức đang chịu sức ... |
| Chạm tay vào giấc mơ nhà ở xã hội Khi giá nhà thương mại ngày càng vượt xa tốc độ tăng thu nhập, nhà ở xã hội (NOXH) không còn là lựa chọn phụ, ... |


